phong cách thơ của nguyễn khoa điềm
Dưới đây là bộ tranh vẽ phong cảnh Việt Nam theo phong cách anime rất đẹp và độc đáo của Facebook Quang Thịnh chia sẻ trên nhóm Vietnam Local Artist Group, mời các bạn chiêm ngưỡng. Nhà thờ gỗ Kon Tum hay Nhà thờ chánh tòa Kon Tum nằm tại số 13 đường Nguyễn Huệ phường
Cuộc thử nghiệm lâm sàng có sự tham gia của 25.000 người trưởng thành ở độ tuổi từ 60 trở lên. Những người tham gia được chia thành 2 nhóm, trong đó 1 nhóm được tiêm một mũi vaccine thử nghiệm của SGK phòng RSV và nhóm còn lại tiêm giả dược. Kết quả cho thấy vaccine
Infographic Hàn Mặc Tử - nhà thơ tài hoa của phong trào Thơ Mới Nhà thơ Hàn Mặc Tử sinh ngày 22/9/1912, cách đây 110 năm, là một trong những cây bút nổi bật của dòng thơ lãng mạn Việt Nam.
Cách Vay Tiền Trên Momo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM - NGUYỄN THỊ NHUNG PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học VŨ TUẤN ANH THÁI NGUYÊN – 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU Trang 1. Lý do chọn đề tài .......................................... 108 trang Chia sẻ huyen82 Lượt xem 2345 Lượt tải 10 Tóm tắt tài liệu Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên1 2. Lịch sử vấn đề .............................................. 3 3. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................. 8 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .............. 8 5. Nhiệm vụ nghiên cứu................................... 8 6. Đóng góp của luận văn ............................... 9 7. Kết cấu của luận văn .................................. 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 PHẦN NỘI DUNG Chương I THƠ CHỐNG MỸ VÀ SỰ XUẤT HIỆN PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM 1. Phong cách nghệ thuật thơ.......................................... 11 Khái niệm phong cách.......................................... 11 Phong cách thời đại và phong cách cá nhân........ 14 Nghiên cứu phong cách một nhà thơ.................. 15 2. Nguyễn Khoa Điềm - Một phong cách thơ đặc sắc của thơ trẻ chống Mỹ........................................................... 17 Nền thơ chống Mỹ........................................... 17 Nguyễn Khoa Điềm và những chặng đƣờng sáng tạo. 19 Con ngƣời – Quê hƣơng – Gia đình........ 19 Những chặng đƣờng sáng tạo................. 22 Sự ra đời của Đất ngoại ô và Mặt đường khát vọng trên chiến trƣờng Bình Trị Thiên.... 22 Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Cõi lặng - Thơ viết trong cuộc sống hoà bình.................................. 24 Chương II TỪ CẢM HỨNG THỜI ĐẠI ĐẾN PHONG CÁCH CÁ NHÂN NGUYỄN KHOA ĐIỀM 1. Cảm xúc lớn về Nhân dân, Đất nƣớc. ................................... 27 Cảm xúc về Đất nƣớc nhìn từ góc độ lịch sử - văn hóa....... 28 Cảm xúc về Đất nƣớc từ góc độ trải nghiệm cá nhân. 38 2. Nguyễn Khoa Điềm - tiếng thơ đại diện tuổi trẻ miền Nam. 41 Âm hƣởng chung của thơ tuổi trẻ miền Nam chống Mỹ. 41 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 Thơ Nguyễn Khoa Điềm – quá trình nhận đƣờng của tuổi trẻ miền Nam........................................ 43 3. Cái tôi trải nghiệm của nhà thơ - chiến sĩ................ 48 Từ cái tôi trữ tình sử thi trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, đến cái tôi trải nghiệm của một thế hệ............... 48 Cái tôi nhà thơ - chiến sĩ trong đời sống nội cảm. 50 Tình yêu trong chiến tranh....................... 50 Tình đồng đội........................................... 54 4. Những suy ngẫm trong cuộc sống hoà bình............ 56 Trầm tƣ, âu lo đầy trách nhiệm nhƣng không bi quan trƣớc gian nan cuộc sống................................. 56 Những xúc cảm trữ tình trƣớc vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc đời................................................................ 64 Chương III PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM QUA MỘT SỐ PHƢƠNG TIỆN NGHỆ THUẬT 1. Giọng điệu của phong cách......................................... 68 Giọng chính luận - triết lý............................... 69 Giọng chính luận........................... 69 Giọng triết lý. ............................... 73 Giọng trữ tình................................................ 74 Giọng suy niệm - tự bạch, độc thoại............. 77 Giọng thơ hoài niệm về quá khứ. 77 Giọng thơ suy tƣ - chiêm nghiệm về cuộc đời............................................ 79 2. Những hình tƣợng thơ biểu trƣng........................ 80 Hình tƣợng Lửa, Máu.................................. 81 Hình tƣợng ngƣời Mẹ................................. 86 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 Hình tƣợng thơ đặc thù mang nét riêng của phong cách Nguyễn Khoa Điềm...................... 88 3. Vận dụng nhuần nhuyễn chất liệu văn hoá dân tộc. 90 Ảnh hƣởng của thể loại sử thi đối với trƣờng ca Mặt đường khát vọng....................... 90 Chất liệu văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.......................................... 92 Ngôn ngữ giàu màu sắc địa phƣơng.......... 94 PHẦN KẾT LUẬN................................................. 97 THƢ MỤC THAM KHẢO.................................... 101 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta với những chiến công oanh liệt đã đi tới thắng lợi cuối cùng. Sự ra đời phát triển của nền thơ chống Mỹ đã góp phần vào cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Có lẽ chƣa bao giờ trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ ca lại đóng góp nhiều tài năng, tâm huyết với những tác phẩm có sức sống với thời gian nhƣ thơ giai đoạn chống Mỹ. Đặt thơ chống Mỹ trong lòng thời đại, có thể khẳng định mỗi vần thơ là tiếng gọi động viên, cổ vũ dân tộc vùng lên đánh giặc. Chiến tranh đã đi qua, đất nƣớc bƣớc vào thời kì hoà bình, thơ chống Mỹ trở thành đối tƣợng đầy hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu văn học. Trong cái nhìn đa dạng nhiều chiều của giới phê bình, có ý kiến cho rằng thơ ca giai đoạn kháng chiến chống Mỹ ít chất thơ, ít sự rung động tinh tế nội cảm mà nặng về tuyên truyền cổ vũ. Nhƣng ngƣợc lại nhiều công trình nghiên cứu lại khẳng định thành tựu và sức sáng tạo của thơ ca chống Mỹ. Do có tính vấn đề nhƣ vậy nên thơ chống Mỹ trở thành một hiện tƣợng văn học phong phú, độc đáo và có nhiều sức hút đối với giới phê bình, nghiên cứu và cả những độc giả yêu thơ. Một trong những nét nổi bật của thơ chống Mỹ là sự xuất hiện của đội ngũ những nhà thơ trẻ. Chính họ làm nên sức bật và sức sống mới cho thơ ca giai đoạn này. Trong chiến tranh nhiều tài năng thơ nảy nở nhƣ Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Dƣơng Hƣơng Ly, Nguyễn Khoa Điềm… Họ đã cất lên tiếng nói đầy tự tin về ý thức trách nhiệm và nhiệt huyết cháy bỏng trong trái tim cả thế hệ mình - thế hệ tự nguyện nhập cuộc và trải nghiệm qua thử thách chiến tranh. Mỗi gƣơng mặt thơ trẻ đó mang một cá tính, một giọng điệu riêng làm nên những phong cách nghệ thuật độc đáo. Song song với việc nghiên cứu một giai đoạn thơ, một nền thơ, việc khảo sát đi sâu vào các tác giả tiêu biểu là một hƣớng đi cần thiết bởi xét cho cùng, giá trị của một nền thơ luôn đƣợc kết tinh bằng sức sáng tạo của những tài năng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 Trong số các nhà thơ chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm viết không nhiều, nhƣng từ số lƣợng ít ỏi ấy vẫn hiện lên một tâm hồn thi sĩ thực sự với những rung động tinh tế, với thế giới nội tâm nồng nàn sâu lắng. Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ có phong cách rõ nét và có đóng góp quan trọng cho thành tựu của thơ chống Mỹ. Thơ Nguyễn Khoa Điềm là những phác hoạ về chiến trƣờng Bình Trị Thiên khói lửa những năm chống Mỹ, và là bức tranh về phong trào đấu tranh chính trị của học sinh, sinh viên trong những đô thị tạm chiếm miền Nam. Mảng nội dung quan trọng này đƣợc thông qua một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm với một ngòi bút tài năng. Thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự kết tinh của xúc cảm và trí tuệ để thăng hoa thành thơ. Đó không chỉ là sản phẩm của một trí tuệ giàu có, một tƣ duy sắc sảo mà đó còn là sản phẩm của một tấm lòng, một trái tim nên có sức lay động ở tận đáy sâu tâm hồn ngƣời đọc. Nguyễn Khoa Điềm không chỉ là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ chống Mỹ. Sau năm 1975 ông vẫn tiếp tục sáng tác và thơ của ông vẫn để lại ấn tƣợng sâu sắc về một tiếng thơ đầy trách nhiệm trƣớc đất nƣớc, cuộc sống, và cũng phản ánh rõ bƣớc chuyển biến trong tƣ duy thơ ông. Nghiên cứu phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm qua những chặng đƣờng sáng tác - khảo sát thơ của ông trong thời kì kháng chiến chống Mỹ và cả trong thời kì hòa bình, có thể nhận ra những đặc điểm phong cách, những dấu hiệu đặc trƣng trong từng thời kì sáng tác, để càng thấy rõ sự ổn định và những biến đổi tƣ duy nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm trong một phong cách thơ đặc sắc và nhất quán. Qua đó cũng có thể góp phần làm rõ chân dung sáng tạo cuả thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng nhƣ tìm hiểu thơ ca Việt Nam thời kì hậu chiến và giai đoạn đổi mới. Nhiều tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm đƣợc chọn giảng trong chƣơng trình văn Trung học cơ sở và Trung học phổ thông. Nguyễn Khoa Điềm đã đóng góp những vần thơ hay nhất về đề tài Đất nƣớc trong văn học thế kỉ XX. Vì thế, đề tài này cũng sẽ góp thêm nguồn tƣ liệu cho việc giảng dạy và học tập các tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm trong nhà trƣờng phổ thông. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ có phong cách riêng với tâm hồn nghệ sĩ đầy nhạy cảm. Không chỉ thành công khi viết về chiến tranh với những đề tài mang tầm vóc thời đại lớn lao mà còn đạt đến độ chín trong suy tƣ cảm xúc giữa bộn bề cuộc sống thƣờng ngày. Ngay từ khi cho ra đời những bài thơ đầu tiên, Nguyễn Khoa Điềm đã gây đƣợc sự chú ý của ngƣời đọc, với những bài phê bình, nghiên cứu về thơ ông. Các ý kiến trên đều khẳng định ông là nhà thơ có phong cách. “Đó là thơ của tuổi trẻ, thơ của khát vọng chống Mỹ, thơ về vùng đất ngoại ô, về bạn bè đồng chí”. Nhiều bài viết đánh giá thơ ông, là thứ thơ giàu sức liên tƣởng, có tƣ duy sáng tạo riêng và phong phú những cách thể hiện mới. Năm 1972, Nguyễn Khoa Điềm đã trình làng thơ Việt Nam tập Đất ngoại ô. Sự xuất hiện của tập thơ đƣợc độc giả đón nhận hào hứng và khẳng định những thành công bƣớc đầu của thơ ông. Ngay sau đó nhà phê bình Hà Minh Đức đã có bài giới thiệu Đất ngoại ô của Nguyễn Khoa Điềm. Bài viết đã chỉ ra "sức hấp dẫn, lôi cuốn của thơ Nguyễn Khoa Điềm, đó là một hồn thơ trẻ trung nồng cháy lý tƣởng" và nhận ra điểm mạnh của thơ ông chính là "sự liên tƣởng đƣợc triển khai khi thì bằng vốn sống thực tế, khi thì bằng vốn văn hóa, khi thì qua mạch tình cảm đƣợc dẫn dắt từ một tấm lòng. Trƣờng ca Mặt đường khát vọng ra mắt bạn đọc năm 1974 đã đem lại tiếng vang cho tên tuổi Nguyễn Khoa Điềm. Năm 1975 Nguyễn Văn Long có bài viết Nguyễn Khoa Điềm với Mặt đường khát vọng. Trong bài viết ông đã đi sâu vào nội dung của cả tập thơ, phân tích cụ thể con đƣờng đi theo cách mạng của tuổi trẻ miền Nam. Tác giả bài viết cho rằng “chƣơng Đất nước làm điểm tựa cảm xúc cho toàn ........... bài”. Cấu trúc của cả tập thơ là sự tìm tòi sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm trong cách thể hiện. Năm 1976 Tôn Phƣơng Lan đã khẳng định tiềm năng của nhà thơ trẻ qua bài giới thiệu Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng. Bài viết có cái nhìn khái quát bao trùm cả Đất ngoại ô và Mặt đường khát vọng để nhận ra cái riêng của Nguyễn Khoa Điềm giữa các gƣơng mặt khác. Đó là cảm nhận rất riêng của nhà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 thơ về Huế với “cách nhìn riêng qua phong cách của mình, qua tấm lòng vốn đã gắn bó với Huế từ buổi ấu thơ”. Đó là những liên tƣởng độc đáo…Những nét riêng đó đã định hình phong cách nhà thơ. Tôn Phƣơng Lan đã khẳng định “Một phong cách Nguyễn Khoa Điềm khá rõ. Bạn đọc ghi nhận ở anh một cách suy nghĩ và diễn đạt có âm hƣởng riêng”. Năm 1979, Mai Quốc Liên với bài giới thiệu Nguyễn Khoa Điềm và những bài thơ từ chiến trường Bình Trị Thiên tiếp tục làm rõ thêm đƣờng nét chân dung thơ Nguyễn Khoa Điềm. Bài viết cho rằng "Nguyễn Khoa Điềm không bắt đầu thơ mình từ sách vở, từ phòng văn mà từ hiện thực cuộc sống chiến đấu của nhân dân, đất nƣớc". Năm 1985, Nguyễn Xuân Nam tìm hiểu phong cách Nguyễn Khoa Điềm trong Mặt đường khát vọng qua bài "Mặt đƣờng khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm". Một lần nữa Nguyễn Xuân Nam nhấn mạnh điểm nổi bật của Nguyễn Khoa Điềm là "không đặc sắc về tạo hình, màu sắc nhƣng có sức liên tƣởng mạnh" và "anh đã có đƣợc cái nhìn vừa phân tích vừa khái quát rất cần thiết cho thơ". Võ Văn Trực lại tìm cho mình một hƣớng đi mới trong việc cảm thụ thơ Nguyễn Khoa Điềm. Ông phác họa chân dung nhà thơ bằng việc tìm hiểu ảnh hƣởng của truyền thống văn hoá Huế đến con ngƣời và thơ Nguyễn Khoa Điềm, vì vậy bài viết có tựa đề "Gương mặt quê hương - Gương mặt nhà thơ". Theo Võ Văn Trực, "hầu hết đề tài trong thơ anh đều đƣợc rút ra từ mảnh đất Huế, ngoại ô Huế và ngoại ô mở rộng của chiến trƣờng Bình Trị Thiên" và "lịch sử Huế, nền văn hóa Huế, hơi thở hàng ngày của cuộc sống Cố đô thấm vào máu thịt và cảm xúc về Huế chan chứa trong thơ anh". Thơ Nguyễn Khoa Điềm không "ngổn ngang" tên đất tên ngƣời xứ Huế, không "bề bộn" phong tục tập quán Huế nhƣng tâm hồn Huế vẫn dịu dàng ở phía sau mỗi dòng thơ". Chính chất Huế làm nên phong cách và bản lĩnh thơ Nguyễn Khoa Điềm. Sau một thời gian dài, đến năm 1986 Nguyễn Khoa Điềm cho ra đời tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm. Tập thơ đoạt giải thƣởng của hội nhà văn Việt Nam. Nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh trong bài Nguyễn Khoa Điềm từ Mặt đường khát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 vọng đến ngôi nhà có ngọn lửa ấm đã khẳng định sự thống nhất trong phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm trƣớc và sau chiến tranh. Ông cho rằng sự độc đáo của tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm là tƣ duy hƣớng nội, giọng nói rất mới mẻ, không hoa mỹ, không thiên về cảm xúc màu hồng. Với bút pháp lấy cái tình của nội tâm làm nền, thơ đã thâm nhập vào bề sâu, tìm tòi đƣợc cái tiềm ẩn của sự vật. Tập hợp những điều mới mẻ đó “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm ghi nhận một hƣớng cảm xúc điềm đạm, sâu lắng, tách lớp vỏ của sự vật để tìm cái lõi bên trong, khơi gợi từ đấy những triết lí về đạo đức nhân sinh”. Trong bài viết "Ngôi nhà tâm hồn Nguyễn Khoa Điềm luôn có ngọn lửa ấm", Hoàng Thu Thuỷ nhận xét bức tranh tâm hồn Nguyễn Khoa Điềm sau chiến tranh luôn đƣợc chiếu sáng bởi ngọn lửa hồng niềm tin và trách nhiệm. Bài viết chú ý đến quan niệm thơ của Nguyễn Khoa Điềm sau chiến tranh "Anh đã cho rằng, nhƣợc điểm của thơ văn trong chiến tranh là suy nghĩ riêng tâm tƣ riêng của con ngƣời không phong phú đa dạng. Chỉ có một âm hƣởng chung là chiến đấu; những ƣớc mơ, dằn vặt lo âu đau thƣơng mất mát không có... Có lẽ đã đến lúc phải thay đổi cách nhìn về chiến tranh, về văn học chiến tranh". Với quan niệm này Ngôi nhà có ngọn lửa ấm đạt tới những cảm xúc dồn nén trong vùng sâu thẳm của tâm hồn và giàu tính thuyết phục hơn khi chắt lọc chất thơ từ những điều rất đỗi đời thƣờng đơn sơ, bình dị. Hoàng Thu Thuỷ là ngƣời chú ý tìm hiểu thi pháp thơ Nguyễn Khoa Điềm. Dù chƣa phân tích kĩ nhƣng bài viết cũng đã có những phát hiện tinh tế và chính xác về nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm "Nắm vững đặc trƣng của thơ ca, bảo đảm cho "tƣ duy thơ đông đặc và nhảy vọt, lựa chọn từ ngữ, hình ảnh hàm súc, triệt để khai thác âm vang của các khoảng cách trong thơ". Cuối bài viết Hoàng Thu Thuỷ đã nêu lên những đặc điểm trong thi pháp biểu hiện của Nguyễn Khoa Điềm "Đó có lẽ là sự vận động từ gân guốc, mạnh khoẻ một cách điềm tĩnh đến độ sâu sắc đến mức tĩnh tại, chạm vào phần sâu kín nhất trong tâm hồn con ngƣời, làm bật lên những hiệu ứng thẩm mỹ phong phú"[5,18]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11 Vũ Quần Phƣơng cũng thể hiện quan điểm của mình về thơ Nguyễn Khoa Điềm qua bài "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm - Nguyễn Khoa Điềm". Tác giả bài viết bộc lộ một thái độ trân trọng trƣớc quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm "muốn tìm chất thơ tiềm ẩn trong cái thƣờng ngày" và "quan tâm đến những cảm nhận của lòng mình". Theo Vũ Quần Phƣơng, làm đƣợc nhƣ vậy Nguyễn Khoa Điềm đã "có sự nhạy cảm và lịch lãm sâu sắc". Ông đã khái quát đƣợc đặc điểm nội dung và nghệ thuật của Ngôi nhà có ngọn lửa ấm muốn dùng cái đạm để vẽ cái nồng, không cao giọng lâm ly mà bằng giọng nói thường để chấm phá khêu gợi, tiết kiệm chữ nghĩa...để tạo nên những câu thơ cô đọng dồn nén cảm xúc, đạt đến độ hàm súc [45] Năm 2000, Chu Văn Sơn trong bài phê bình thi phẩm Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định tƣ duy thơ Nguyễn Khoa Điềm là tƣ duy trữ tình triết luận "Nét chủ đạo trong tƣ duy triết luận trữ tình là đào sâu vào cái bản chất của sự vật dƣới dạng những biểu tƣợng thi ca sống động. Tƣ duy ấy chuyển động dựa trên mạch lôgíc biện chứng với những mối liên hệ bất ngờ kì thú". Sự hoà hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố triết luận và trữ tình đã góp phần định hình nên phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm. Hoài Anh có bài viết trên báo Văn nghệ ra ngày 25 tháng 4 năm 2002 Nguyễn Khoa Điềm với chủ đề thơ sóng đôi Đất và khát vọng. Với sự am hiểu sâu sắc văn hoá Huế, tác giả bài viết đã thâu tóm đƣợc cái "thần" cái "hồn", cái cốt tuỷ tinh tuý cuả thơ Nguyễn Khoa Điềm. Hoài Anh là ngƣời đầu tiên tìm hiểu chất nhạc trong thơ Nguyễn Khoa Điềm "Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm tôi liên tƣởng đến một khúc đàn tranh của một nhạc sĩ Huế". Theo tác giả, trong thơ Nguyễn Khoa Điềm niềm vui thì "khoẻ khoắn tƣơi lành của điệu Nam Xuân", nỗi buồn thì "nhẹ nhàng sâu lắng của điệu Nam Bình" và có những đoạn "đảo phách", "chuyển điệu" của bản Đảo Ngũ Cung... Nguyễn Khoa Điềm sáng tác không nhiều nhƣng ông có hai tác phẩm đƣợc chọn giảng trong chƣơng trình Trung học phổ thông, đó là Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ và Đất nước - trích chƣơng V Mặt đường khát vọng. Rất nhiều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12 ngƣời trong giới phê bình và giáo dục đã viết bài phân tích phát hiện vẻ đẹp trong nội dung tƣ tƣởng và nghệ thuật của bài thơ. Những bài viết này đƣợc đăng rải rác trên các báo văn và gần đây đƣợc tập hợp lại trong cuốn "Viễn Phương - Thanh Hải - Nguyễn Khoa Điềm"Tủ sách văn học nhà trƣờng. Từ Đất ngoại ô, từ Mặt đường khát vọng mang không khí hào sảng của thời đại, mang dƣ vị ngọt ngào của tâm hồn sinh viên trí thức trẻ, Nguyễn Khoa Điềm trở về Ngôi nhà có ngọn lửa ấm với những điều bình thƣờng, với mọi buồn vui của cuộc sống. Và tiếp theo mạch tƣ duy hƣớng nội, tập thơ Cõi lặng ra đời năm 2007 với rất nhiều ý kiến đánh giá khẳng định giá trị của nó. Nguyễn Sĩ Đại trong bài viết Cõi lặng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã cho rằng “Một số bài đã vươn tới độ lớn mang tính phổ quát. Dù trong hoàn cảnh nào thì tâm hồn thi sĩ trong anh vẫn hài hoà nồng thắm cùng đất nước theo cách riêng của mình, tức là nơi chân tơ kẽ tóc, trong tế bào, trong mỗi hơi thở hàng ngày...Tập thơ mang đậm sự chiêm nghiệm về cuộc sống và triết lí về nhân sinh thế sự”. Cõi lặng là tập thơ làm phong phú thêm tiếng thơ Việt Nam hiện đại, tập thơ hoàn thiện hơn chân dung Nguyễn Khoa Điềm, làm cho ông gần gũi hơn đối với chúng ta, với cuộc sống vĩnh cửu. Các bài phê bình nghiên cứu, dù mỗi bài có cách nói, cách viết khác nhau song đếu có sự gặp gỡ ở một điểm chung khi khẳng định những đặc sắc của thơ Nguyễn Khoa Điềm. Đó là tiếng thơ của tuổi trẻ viết về Đất ngoại ô với những ngƣời mẹ, ngƣời em, những bạn bè đồng chí trong những năm tháng ác liệt của khói lửa chiến trƣờng. Đó là một tiếng thơ giàu chất suy tƣởng, ấm áp tình cảm. Và một nét riêng nữa của phong cách Nguyễn Khoa Điềm đó là nhà thơ của triết lí dân gian, một nhà thơ mà giọng Huế, chất Huế ngấm sâu vào từng câu, từng chữ. Dù trong hoàn cảnh nào, Nguyễn Khoa Điềm đều thể hiện một hồn thơ sắc sảo, giàu tri thức văn hoá với những suy tƣ đầy trách nhiệm trƣớc lí tƣởng và con đƣờng mà mình đã chọn. Có thể nói thơ Nguyễn Khoa Điềm đã đƣợc giới nghiên cứu phê bình và độc giả chú ý nhiều. Mặc dù có nhiều bài viết đề cập đến những vấn đề lớn của thơ ông, song phần lớn trong đó mới chỉ là những bài giới thiệu tác giả, giới thiệu từng tập Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 thơ chứ chƣa phải là công trình nghiên cứu Nguyễn Khoa Điềm nhƣ một tác gia, nhằm khảo sát toàn diện thơ Nguyễn Khoa Điềm. Trên cơ sở tiếp thu những bài viết quý báu đã có về Nguyễn Khoa Điềm, chúng tôi mạnh dạn bƣớc đầu tìm hiểu về phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm. 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phƣơng pháp phân tích tác giả, tác phẩm. Phân tích, chứng minh, thẩm bình để thấy rõ cảm hứng chủ đạo làm nổi bật những nét độc đáo trong thơ Nguyễn Khoa Điềm. Phƣơng pháp tiếp cận phong cách tác giả. Việc nghiên cứu phong cách tác giả là làm nổi bật sự độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ, nên đòi hỏi phải có phƣơng pháp tiếp cận phong cách tác giả. Phƣơng pháp so sánh. Đặt tác giả trong sự tƣơng quan với các nhà thơ khác, để thấy rõ những yếu tố làm nên nét đặc trƣng riêng trong sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm. 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tƣợng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm Phạm vi nghiên cứu Tập trung khảo sát quá trình sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm qua các tập thơ đã xuất bản * Đất ngoại ô - 1972 * Mặt đường khát vọng - 1974 * Đất và khát vọng - 1984 * Ngôi nhà có ngọn lửa ấm - 1986 * Cõi lặng - 2007 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU -Nhìn lại toàn bộ sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm nhƣ một quá trình vận động của tƣ duy nghệ thuật thơ, song song với những chặng đƣờng lịch sử của đất nƣớc. -Trên cơ sở khảo sát các tập thơ để tìm ra cái hay, cái đẹp và những nét đặc sắc về nội dung cũng nhƣ nghệ thuật của thơ Nguyễn Khoa Điềm, luận văn tập trung làm rõ phong cách nhà thơ. -Để thực hiện nhiệm vụ đã nêu, trên cơ sở của việc nhìn nhận lại một số vấn đề lí luận về phong cách tác giả, luận văn đi vào tìm hiểu sự ảnh hƣởng của quê hƣơng, gia đình, thời đại đến sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm. Đồng thời, phân tích văn bản thơ, so sánh với các nhà thơ khác cùng thời để làm nổi bật bức chân dung tinh thần trong thơ Nguyễn Khoa Điềm và khảo sát nó trong các cấp độ nghệ thuật khác nhƣ giọng điệu hình tƣợng, ngôn ngữ... 6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN Có nhiều cách tiếp cận thơ Nguyễn Khoa Điềm. Chúng tôi chọn hƣớng tiếp cận trên với mục đích làm rõ những nét độc đáo, những đóng góp riêng trong phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm. Qua đó, góp phần đánh giá một cách khoa học vị trí của Nguyễn Khoa Điềm trong nền thơ chống Mỹ. Tìm hiểu phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm là hƣớng đi có nhiều triển vọng trong việc làm sáng tỏ tiếng nói của thế hệ và cá nhân nhà thơ, làm rõ phong cách thơ trẻ chống Mỹ, từ đó có cái nhìn thấu đáo, toàn cảnh về thơ hiện đại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15 7. KẾT CẤU LUẬN VĂN Chương I Thơ chống Mỹ và sự xuất hiện phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm. Chương II Từ cảm hứng thời đại đến phong cách cá nhân Nguyễn Khoa Điềm. Chương III Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm qua một số phƣơng tiện nghệ thuật. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16 PHẦN NỘI DUNG Chương I THƠ CHỐNG MỸ VÀ SỰ XUẤT HIỆN PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM Thơ Nguyễn Khoa Điềm dù độc đáo nhƣng cũng không nằm ngoài dòng chảy của thơ ca thế kỉ. Đây là một thời kì mà do những yêu cầu chung của lịch sử, thơ ca tự giác hƣớng đến sự khám phá những giá trị tinh thần thời đại của dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu phong cách Nguyễn Khoa Điềm không thể tách rời thành tựu của thơ chống Mỹ. Trong chƣơng này, trƣớc hết chúng tôi làm sáng tỏ nhận thức của mình về khái niệm phong cách nhƣ một khái niệm định hƣớng, từ đó tìm hiểu khái quát về thơ chống Mỹ nói chung và thơ Nguyễn Khoa Điềm nói riêng. cách nghệ thuật thơ Khái niệm phong cách Phong cách là một thuật ngữ không chỉ dùng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, mà còn đƣợc dùng trong nhiều ngành khoa học và đời sống xã hội. Trong sáng tác và nghiên cứu văn học, thuật ngữ phong cách đƣợc sử dụng rộng rãi và ngày càng có ý thức. Xung quanh thuật ngữ này, lâu nay có rất nhiều định nghĩa, quan niệm phong phú đa dạng. Ở phƣơng Tây ngay từ thời cổ đại với các đại biểu xuất sắc nhƣ Platon, Aristote, khái niệm phong cách đã đƣợc nghiên cứu và vận dụng. Bƣớc sang thế kỉ XIX đặc biệt là thế kỉ XX, khái niệm phong cách ngày càng đƣợc quan tâm sâu sắc. Ở Liên xô, viện sỹ MB. Khrapchenko trong cuốn “Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học” đã thống kê gần 20 cách hiểu khác nhau về phong cách [121,129,152]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17 Ở nƣớc ta tuy muộn màng hơn nhƣng những năm gần đây các nhà lí luận, nghiên cứu văn học đã dành nhiều công sức để tìm hiểu vấn đề phong cách, từ những sách công cụ nhƣ “Từ điển văn học” do Đỗ Đức Hiểu chủ biên; “Từ điển thuật ngữ văn học” do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên; “150 thuật ngữ văn học” - Lại Nguyên Ân chủ biên; “Lí luận văn học” của Phƣơng Lựu, La Khắc Hoà, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà; Dẫn luận phong cách học của Nguyễn Thái Hoà. Dẫn luận thi pháp học của Trần Đình Sử… đến các công trình đi sâu nghiên cứu phong cách tác. giả cụ thể Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại của Hà Minh Đức[31]; Tác phẩm và chân dung của Phan Cự Đệ; Nhà văn tư tưởng và phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh; Văn học Việt Nam trong thời đại mới của Nguyễn Văn Long; Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu của Tôn Phƣơng Lan… Buffon cho rằng “Phong cách chính là người” mỗi nhà văn thƣờng có một tạng riêng. Viện sỹ Likhatsep trong cuốn Thi pháp văn học Nga định nghĩa “Phong cách là một hệ thống hình thức và nội dung nhất định, là nguyên tắc thẩm mỹ để cấu trúc toàn bộ nội dung và hình thức”. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật. Trong khi đó, V. Đneprop lại cho rằng phong cách đƣợc coi nhƣ là hình thức toàn vẹn có tính nội dung. Ông phát biểu “Phong cách là mối liên hệ của những hình thức, mối liên hệ đó bộc lộ sự thống nhất của nội dung nghệ thuật”. Xung quanh khái niệm phong cách còn có những quan điểm khác nhau nhƣng tựu trung có thể nhận ra hai luồng ý kiến cơ bản một nhấn mạnh sự thống nhất của những yếu tố nội dung và yếu tố tạo hình thức của tác phẩm; một cho rằng phong cách đƣợc coi nhƣ là hình thức toàn vẹn có tính nội dung. Mặc dù tách bạch nhƣ vậy nhƣng trong đó vẫn có thể nhận ra sự thống nhất, bởi các tác giả đều quan tâm đặc biệt đến hai yếu tố bộc lộ tài năng độc đáo của ngƣời nghệ sĩ - nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn chƣơng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18 Các nhà nghiên cứu lí luận nƣớc ta cũng đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu nội hàm thuật ngữ phong cách. Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học trên cơ sở thừa nhận hai phạm trù phong cách ngôn ngữ và phong cách nghệ thuật đã định nghĩa “Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ chịu sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn trong một tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” [255]. "Đó là cái riêng tạo nên sự thống nhất lặp lại biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và ở hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy". Thống nhất quan điểm đó, Phƣơng Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, La Khắc Hoà, trong cuốn Lí luận văn học định nghĩa “Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật, có phẩm chất thẩm mỹ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú”. Quả thật tính độc đáo là yếu tố quyết định tạo phong cách nghệ thuật. Nhìn chung các nhà nghiên cứu lí luận và nghiên cứu văn học đều nhấn mạnh cá tính sáng tạo độc đáo mang tính thẩm mỹ của nhà văn, cụ thể hoá các yếu tố tạo phong cách nghệ thuật tác giả. Các nhà nghiên cứu đều thống nhất nhà văn muốn có phong cách riêng trƣớc hết phải có tƣ tƣởng độc đáo, có cách cảm nhận thế giới độc đáo, có cảm hứng độc đáo, có hệ thống phƣơng thức riêng độc đáo, lẽ dĩ nhiên phải là “tính độc đáo chân chính” Hêghen Qua nhiều ý kiến về phong cách nhà văn, có thể rút lại những nét cơ bản nhất về phong cách Phong cách là những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật, có tính thống nhất và tương đối ổn định, “được lặp đi lặp lại” trong nhiều tác phẩm của nhà văn, thể hiện cái nhìn và sự chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn đối với thế giới và con người. Nhƣ vậy, căn cứ để khẳng định phong cách tác giả là những đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức trên từng tác phẩm văn học, tạo nên tính độc đáo và giá trị của một nhà văn, một hiện tƣợng văn học. Theo chúng tôi, những biểu hiện độc đáo và giá trị thể hiện tài năng sáng tạo ấy, đều đƣợc chi phối từ tƣ tƣởng nghệ thuật của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19 tác giả. Tƣ tƣởng nghệ thuật ấy lại đƣợc biểu hiện cụ thể trong cảm hứng sáng tác, thế giới hình tƣợng, giọng điệu và ngôn ngữ.., trong đó cảm hứng hiện thực thời đại là yếu tố hàng đầu chiếm vị trí quan trọng. Nhà văn Nguyễn Tuân đã từng khẳng định “Mỗi người viết có một cái vision nhỡn quan riêng. Nó đẻ ra phong cách”. Phong cách thời đại và phong cách cá nhân Xung quanh khái niệm phong cách tác giả, vấn đề còn đặt ra là phong cách cá nhân có quan hệ với phong cách thời đại nhƣ thế nào? Giữa phong cách và thi pháp liên quan với nhau ra sao? Mỗi thời đại có một đặc điểm riêng, in dấu rõ đặc trƣng văn hoá xã hội tinh thần thời đại ấy. Văn học phản ánh tinh thần cơ bản nhất của thời đại, mang phong cách chung của thời đại, gắn liền với truyền thống văn chƣơng của mỗi nền văn học. Văn học trung đại nồng nàn lòng yêu nƣớc và tinh thần quyết chiến quyết thắng của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Đó là sự kết tinh ý chí của cả thời đại ấy. Hoặc trong văn học hiện đại chúng ta dễ nhận ra phong cách chung của thơ chống Pháp, nó thể hiện sự gắn bó với cuộc sống kháng chiến và niềm vui của đời sống kháng chiến. Đến thơ thời kì kháng chiến chống Mỹ, toàn bộ tinh thần thời đại là chủ nghĩa yêu nƣớc và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Tính trữ tình - sử thi là phong cách nổi bật của thơ chống Mỹ. Dƣờng nhƣ mỗi nhà thơ thời kì này đều thể hiện tính thời đại ấy Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Nguyễn Đức Mậu…là những phong cách cá nhân tiêu biểu làm nên phong cách thời đại . Giữa phong cách thời đại và phong cách cá nhân có mối liên hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau. Phong cách thời đại là cái chung, cái tạo nên sự gần gũi nhau giữa những phong cách cá nhân trong mỗi thời đại. Quan tâm đến mối quan hệ này, A. Xôkôlôv viết “Hình thức chủ yếu của sự thống nhất phong cách là khuynh hướng nghệ thuật - phạm trù cơ bản của quá trình nghệ thuật. Phong cách khuynh hướng đó là tính cộng đồng của những đặc điểm phong cách khiến cho sáng tác của những nghệ sĩ thuộc một khuynh hướng nhất định gần gũi nhau… Phong cách riêng lẻ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20 không thể tồn tại nếu thiếu cái chung, thiếu phong cách của khuynh hướng. Phong cách bao giờ cũng bắt nguồn từ cái chung”. Đành rằng phong cách thời đại có ảnh hƣởng trực tiếp tới phong cách cá nhân, nhƣng không thể đề cao nó một cách tuyệt đối, bởi nhƣ vậy sẽ vô hình làm giảm ý nghĩa của phong cách cá nhân. Phong cách thời đại không thể xoá nhoà bản sắc riêng của phong cách cá nhân. Phong cách cá nhân là cái riêng xác lập vị thế của mình góp phần tạo nên cái chung của phong cách thời đại. Phong cách thời đại có ảnh hƣởng, chi phối các phong cách cá nhân, tạo ra nền tảng tinh thần, đặc trƣng thẩm mỹ có sức hút lớn đối với mọi cá tính sáng tạo. Phong cách thời đại không hình thành từ khái niệm trừu tƣợng mà nó đƣợc gắn kết từ các phong cách cá nhân. Chính phong cách cá nhân góp phần làm nên phong cách thời đại, và làm giàu cho phong cách thời đại. Phong cách cá nhân không chỉ tiếp nhận nguồn sáng, sự ràng buộc của phong cách thời đại mà nó còn phá bỏ sự ràng buộc để tìm đến cái mới mẻ, cái riêng, cái độc đáo. Ngoài mối liên hệ giữa phong cách thời đại và phong cách cá nhân, giữa phong cách học và thi pháp học cũng có những mối quan hệ qua lại. Có trƣờng phái cho rằng phong cách và thi pháp đều thuộc một phạm trù, chúng tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ nhƣ một sự hiển nhiên. Lại có trƣờng phái tuyệt đối hoá hai khái niệm này một cách cực đoan cho rằng, giữa phong cách và thi pháp không có quan hệ, ràng buộc gì với nhau. Thực ra phong cách và thi pháp là hai phạm trù khoa học có nội hàm riêng. Tuy vậy, theo Khrapchenko, phong cách học và thi pháp học có tính “độc lập tƣơng đối”, có sự “liên hệ năng động”. Vì vậy chúng có quan hệ mật thiết với nhau. Nghiên cứu phong cách không thể không nghiên cứu những yếu tố thuộc phạm trù thi pháp và ngƣợc lại, thi pháp là cơ sở khoa học, là bằng chứng đầy sức thuyết phục làm nên phong cách tác giả. Nghiên cứu phong cách một nhà thơ Nghiên cứu phong cách nhà thơ và phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm nói riêng, luận văn chú ý đến cảm hứng thời đại, thời kì chống Mỹ cứu nƣớc. Đó là cảm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 21 hứng lớn về đất nƣớc và nhân dân anh hùng, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đồng thời nhƣ một nhiệm vụ trọng tâm, ngƣời nghiên cứu cần tập trung khảo sát những dấu hiệu phong cách cá nhân đó là những chủ đề quen thuộc, cách cảm nhận riêng đối với hiện thực, đặc trƣng của cách diễn đạt thông qua thế giới hình tƣợng. Phong cách nhà thơ là một quá trình vận động, phát triển không ngừng qua mỗi giai đoạn sáng tác. Mặc dù vậy, cái riêng cái độc đáo có giá trị mang tính thẩm mỹ - cốt lõi của phong cách, dù ở điều kiện hoàn cảnh nào cũng ổn định, thống nhất. Nó phải đƣợc “lặp đi lặp lại” một cách có hệ thống và luôn bị chi phối bởi cái nhìn độc đáo của nhà văn. Chúng thƣờng xuyên ở thế vận động, phát triển và chịu ảnh hƣởng của thế giới quan, môi trƣờng xã hội và xu thế chung của thời đại. Nhƣng dù ở môi trƣờng nào, xu thế xã hội nào thì yếu tố thƣờng xuyên đƣợc “lặp đi lặp lại” ấy vẫn xuất hiện cho dù chúng ở thế lộ thiên hay dƣới mạch ngầm. Từ những nhận thức lí luận chung về phong cách tác giả, chúng tôi muốn liên hệ đến những nét cơ bản trong phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm. Sự thống nhất độc đáo của phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm nằm ở cảm hứng hiện thực thời đại, ở những chủ đề quen thuộc, ở phương diện thể hiện cái tôi trữ tình phong phú đa dạng, với lớp ngôn từ, hình ảnh cảm xúc ẩn sau bề mặt câu chữ một cảm quan lịch sử văn hoá sâu sắc độc đáo. Thơ ca cách mạng bao giờ cũng thống nhất về tƣ tƣởng xã hội. Dù viết bất cứ về chủ đề nào, riêng hay chung đều thể hiện một lí tƣởng duy nhất yêu nƣớc và căm thù giặc. Nằm trong dòng cảm hứng chủ đạo này, tiếng nói nội tâm trong thơ Nguyễn Khoa Điềm vẫn bộc lộ những tiếng nói mới mẻ. Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm yêu nƣớc không đơn giản chỉ là nhiệt tình hăng hái chiến đấu và căm thù giặc mạnh mẽ. Với Nguyễn Khoa Điềm tình yêu đất nƣớc làm sống dậy trong trang thơ lịch sử bốn ngàn năm hào hùng của dân tộc với những chiến công dựng nƣớc và giữ nƣớc của cha ông. Đất nƣớc trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự đồng hiện của những gì gần gũi nhất, thân thƣơng nhất của mỗi con ngƣời Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tƣơng lai, trong thời gian và không gian, trong lịch sử và truyền thống văn hoá… Ở Nguyễn Khoa Điềm lòng yêu nƣớc là hồn Việt thấm đƣợm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22 trong tâm hồn để từ đó đúc kết một chân lý vững vàng Đất nước của nhân dân. Tƣ tƣởng Đất nước của nhân dân đã chi phối hầu hết các sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm. Vì vậy tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ nói lên những suy nghĩ cảm nhận của tuổi trẻ trong chiến tranh, về sự lạc quan hay cái nhìn nghiêm túc thành thật, thậm chí trần trụi về những mất mát… mà còn bộc lộ những suy nghĩ hiện thực sâu sắc hơn rất nhiều. Thơ Nguyễn Khoa Điềm thể hiện lòng yêu nƣớc qua việc tranh luận về tuổi trẻ, về nhân sinh quan để dựng lại cả quá trình “tìm đƣờng” và “nhận đƣờng” của tuổi trẻ đô thị miền Nam về với con đƣờng cách mạng của dân tộc, nhân dân. Tài năng và cá tính sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm còn bộc lộ trong những phƣơng diện nghệ thuật đó là thi pháp biểu hiện mang phong cách riêng, từ giọng điệu trữ tình giàu chất chính luận, đến việc xây dựng chất liệu thơ giàu chất liệu hiện thực, chất liệu văn hoá và giàu tính liên tƣởng..,từ việc sử dụng những tín hiệu thẩm mỹ vừa truyền thống vừa hiện đại đến việc sử dụng linh hoạt thể thơ tự do với những cung bậc khác nhau của cảm xúc với một vốn từ ngữ giàu có vừa dân dã vừa mang tính văn hoá thời đại. 2. Nguyễn Khoa Điềm - một phong cách thơ đặc sắc của thơ trẻ chống Mỹ. Nền thơ chống Mỹ Văn học Việt Nam thời kì chống Mỹ cứu nƣớc 1964 - 1975 có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc. Đây là thời kì văn học phát triển rực rỡ trên nhiều thể loại, trở thành cuốn biên niên văn học về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc. Thơ giai đoạn chống Mỹ cứu nƣớc là chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, bản lĩnh con ngƣời Việt Nam đƣợc các nhà thơ khắc hoạ một các chân thực, sinh động, gây đƣợc ấn tƣợng mạnh mẽ, phản ánh đƣợc khí thế tầm vóc của cả một dân tộc mang hơi thở thời đại. Có thể nói đây là thời kì rực rỡ nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại. Từ tháng 8 năm 1964, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc của dân tộc ta bƣớc sang một giai đoạn mới gay go, ác liệt. Nhanh nhạy và kịp thời, nền thơ hiện đại đã nhập cuộc tham gia vào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 23 cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của toàn dân tộc. Suốt những năm tháng chiến tranh, các thế hệ nhà thơ đã tiếp bƣớc nhau dàn quân trên các mặt trận với cảm hứng chủ đạo là thể hiện khát vọng độc lập tự do và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại chống Mỹ. Nền thơ chống Mỹ đƣợc hình thành từ nhiều thế hệ nhà thơ Thế hệ nhà thơ xuất hiện trƣớc cách mạng Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh…, thế hệ các nhà thơ trƣởng thành trong kháng chiến chống Pháp Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông… và thế hệ các nhà thơ trẻ ra đời trong thời kì chống Mỹ. Mỗi nhà thơ nói trên đều có thế mạnh riêng và có những đóng góp đáng ghi nhận cho nền thơ chống Mỹ. Chỉ trong vòng mƣời năm, nền thơ chống Mỹ đã liên tục xuất hiện những gƣơng mặt trẻ nhƣ Thái Giang, Nguyễn Mỹ, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Dƣơng Hƣơng Ly, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Khoa Điềm, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Đăng Khoa, Lâm Thị Mỹ Dạ…Đó là những gƣơng mặt tiêu biểu của thế hệ thơ thời kì chống Mỹ. Các nhà thơ thời kì này ý thức sâu sắc trách nhiệm công dân của mình. “Các nhà thơ đã đưa thơ lên những chiến hào, nơi mũi nhọn của cuộc chiến đấu” [28,103]. Chế Lan Viên đã tự hào vẽ lên vóc dáng và tƣ thế của nhà thơ trong cuộc chiến đấu của cả dân tộc “Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ, Bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi” Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? Còn Xuân Diệu thì nói về sự gắn bó của nhà thơ với nhân dân, đất nƣớc Tôi cùng xƣơng thịt với nhân dân tôi Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu Tôi sống với cuộc đời chiến đấu Của triệu ngƣời yêu dấu gian lao Những đêm hành quân Thơ thời kì kháng chiến chống Mỹ tập trung xây dựng hai loại hình tƣợng cái tôi trữ tình đó là “cái tôi” sử thi và “cái tôi” thế hệ [28,110]. Cái tôi sử thi đã tạo cho nhà thơ một tâm thế mới. Nhà thơ phát ngôn cho cả dân tộc, đất nƣớc, nhân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 24 dân. Nhà thơ đứng ở tầm cao thời đại để bao quát cả thời gian, không gian, cả hiện tại và quá khứ, tƣơng lai để phát hiện suy ngẫm. Vì vậy hình tƣợng trong thơ cũng mang tầm vóc sử thi, tầm vóc con ngƣời đƣợc đo bằng chiều kích không gian, vũ trụ, khắc hoạ đƣợc tầm vóc dân tộc trong thời đại đánh Mỹ. Thơ ca chống Mỹ không chỉ đóng góp to lớn về mặt nội dung, mà còn thể hiện bƣớc tiến lớn về mặt hình thức. Hiện thực cuộc sống ùa vào thơ góp phần tạo nên những cách thể hiện mới mẻ, độc đáo, vừa tìm những mảnh đất mới để khai phá, vừa “thâm canh” trên chính mảnh đất của những hình thức và phƣơng tiện biểu hiện truyền thống. Tất cả những bƣớc tiến đó đã khẳng định sự thâm nhập của thơ với hiện thực, khả năng nắm bắt tinh nhạy, kịp thời của các nhà thơ trƣớc thời đại lịch sử. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc đã giành đƣợc thắng lợi, thơ chống Mỹ đã góp một tiếng xứng đáng về cuộc ra trận lớn lao của dân tộc, “không có nhiều trong những bức tranh xã hội rộng lớn, những câu chuyện kể hấp dẫn về cuộc sống dân tộc, nhưng thơ chống Mỹ là tiếng nói tâm tình tha thiết, là khúc ca chiến đấu, là lời tự bộc lộ chân tình ý chí của một dân tộc quyết chiến và quyết thắng” [13,143]. Nó hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của một nền thơ, ghi lại đƣợc thời kì lịch sử đau thƣơng mà hào hùng của dân tộc, đánh dấu một chặng đƣờng phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại. Trong quá trình vận động và phát triển của nền thơ chống Mỹ, xuất hiện thế hệ các nhà thơ trẻ, trong đó có Nguyễn Khoa Điềm. Nhà thơ đã có mặt và đi suốt cả chặng đƣờng chiến tranh và đã đánh dấu thành tựu của mình qua những chặng đƣờng sáng tác. Nguyễn Khoa Điềm và những chặng đường sáng tạo. Con người - Quê hương – Gia đình. Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15 tháng 04 năm 1943 tại thôn Ƣu Điềm xã Phong Hòa huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên - Huế. Cố đô Huế nói riêng và dải đất miền Trung văn hiến, hữu tình là nơi tạo nôi ru lớn bao hồn thơ dân tộc. Quê hƣơng Nguyễn Khoa Điềm - dải đất miền Trung cát trắng, nơi đầu sóng ngọn gió đã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 25 hứng chịu bao biến động của lịch sử, bao khắc nghiệt của thiên nhiên và bao tấn bom đạn của kẻ thù trong chiến tranh. Mảnh đất ấy cũng là trung tâm văn hóa lớn của đất nƣớc, nơi đau đáu một nỗi niềm “nhớ nƣớc đau lòng ” của bà Huyện Thanh Quan, nơi Nguyễn Du ƣơm những vần thơ trĩu nặng tâm tƣ - Truyện Kiều, nơi đã sinh ra vị lãnh tụ vĩ đại mang tâm hồn thi sĩ Hồ Chí Minh…, và ở thế kỉ XX đã sinh thành, quy tụ những ngôi sao văn hoá sáng chói Hải Triều, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Lƣu Trọng Lƣ…và đặc biệt là Tố Hữu lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng. Mảnh đất miền Trung, bên dƣới lớp sỏi đá khô cằn là mạch nƣớc nguồn trong mát nuôi dƣỡng bao thế hệ sáng tác trong suốt cả thời kì lịch sử dài. Nguyễn Khoa Điềm may mắn sinh ra và lớn lên trên miền đất ấy. Hơn mƣời năm học tập ở miền Bắc, nhà thơ đã trở về chiến đấu và hoạt động để chắt lọc từ trong khói lửa chiến tranh, trong hi sinh mất mát những vần thơ mang âm hƣởng sử thi hào hùng. Sức sống dồi dào, sự trỗi dậy kiên cƣờng bất diệt của quê hƣơng khắc khổ mà hoành tráng đã ảnh hƣởng không nhỏ tới phẩm chất con ngƣời và phẩm chất thơ Nguyễn Khoa Điềm. Nguyễn Khoa Điềm đã giáp mặt với chiến tranh, cận kề với bom đạn và cái chết, đã từng xuống đƣờng đối mặt với Mỹ Nguỵ, đã từng chịu cảnh ngục tù. Nhƣng những thử thách đó nhƣ lửa thử vàng, càng làm sáng tỏ lí tƣởng cách mạng kiên định trong tâm tƣởng nhà thơ. Thời gian chảy trôi nhƣng những ngày chiến tranh đã đi qua không thể mờ nhạt trong tâm tƣởng nhà thơ. Bƣớc vào thời kì hòa bình, văn học chia thành nhiều dòng hƣớng. Có những tác phẩm nhìn lại chiến tranh với cái nhìn khác, chú ý hơn đến những đau thƣơng mất mát với mong muốn nhận thức về chiến tranh đầy đủ và sâu sắc hơn. Tuy nhiên cũng có những tác phẩm thể hiện sự bi quan yếu đuối. Thơ Nguyễn Khoa Điềm viết sau chiến tranh không thuộc dòng chảy này. Nguyễn Khoa Điềm tâm sự “Tôi lại không quen cách nhìn chiến tranh nhƣ thế … Nó cũng đau khổ và tốn xƣơng máu thật nhƣng nó cũng lạc quan vui tƣơi, nó nâng ngƣời ta lên chứ không hạ ngƣời ta xuống. Đừng vì những nỗi đau mà hạ khí thế anh dũng của những ngƣời tham gia chiến đấu…” [49,122]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 26 Quê hƣơng miền Trung, đã cho Nguyễn Khoa Điềm rất nhiều, và đến lƣợt mình nhà thơ đã có sự cống hiến xứng đáng góp phần khẳng định “Tính chất hội tụ của một vùng văn nằm gọn giữa đèo Ngang và đèo Hải Vân, vừa có sức hút, vừa có sự lan toả, vừa biết nảy nở, vừa biết đón mời, đối với nhiều người viết được sinh ra hoặc tự nguyện đến mảnh đất này” [5] Nói về quê hƣơng Nguyễn Khoa Điềm không thể không nói riêng về Huế. Huế với những lăng tẩm đền đài thâm nghiêm, huyền bí. Con ngƣời Huế không ồn ào mà thâm trầm, lặng lẽ, kín đáo. Dòng Hƣơng Giang cũng lững lờ trôi hoà nhịp với giọng hò mái nhì mái đẩy buồn man mác. Những nét đặc trƣng của Huế đã tạo nên hồn thơ Nguyễn Khoa Điềm trữ tình mà sâu lắng, hài hòa trí tuệ và cảm xúc. Thành phố Huế cổ kính nằm bên dòng sông Hƣơng đã gắn bó với Nguyễn Khoa Điềm bao kỉ niệm ấu thơ, và trong những năm tháng hoạt động chiến đấu trên chiến trƣờng Trị Thiên - Huế, đã trở thành nguồn cung cấp cho Nguyễn Khoa Điềm những cảm hứng và chất liệu thi ca. Huế đã đi vào thơ Nguyễn Khoa Điềm từ ngoại ô nghèo đến đại lộ uy nghi cổ kính, từ dòng Hƣơng giang đến những con đƣờng rợp bóng phƣợng vĩ. Huế là mệ, là chị, là em, là bạn bè đồng chí trong những đêm không ngủ, những ngày xuống đƣờng. Còn có thể nhận ra chất trữ tình dịu nhẹ, kín đáo mà sâu lắng nhƣ những lời tâm tình thủ thỉ ngọt ngào. Nguyễn Khoa Điềm đƣợc sinh ra trong một gia đình “danh gia vọng tộc” có truyền thống yêu nƣớc và hiếu học. Dòng họ Nguyễn Khoa vốn có gốc gác ở Hải Dƣơng, đến đời Nguyễn Khoa Đăng thì chuyển vào Huế. Nguyễn Khoa Đăng là một ông quan nội giám có tài yên dân, đƣợc dân gian truyền tụng và ông cũng chính là ông tổ của dòng họ Nguyễn Khoa ở đất kinh kì mà Nguyễn Khoa Điềm là hậu duệ đời thứ tƣ. Cụ nội Nguyễn Khoa Điềm từng làm chức quan bố chánh, sau theo phong trào Cần vƣơng rồi từ quan về nhà. Ông nội Nguyễn Khoa Điềm là một nhà nho có tinh thần yêu nƣớc, từng đƣợc bầu vào Viện dân biểu Trung kì do cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Viện trƣởng. Bà nội Nguyễn Khoa Điềm là Nữ sử Đạm Phƣơng, cháu nội vua Minh Mạng. Là ngƣời hoàng tộc nhƣng bà có tinh thần yêu nƣớc tiến bộ, là tác giả của nhiều cuốn sách và bài báo bênh vực quyền lợi của phụ nữ và trẻ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 27 em lúc bấy giờ. Cha Nguyễn Khoa Điềm là Nguyễn Khoa Văn, tức Hải Triều, một chiến sĩ cách mạng, một nhà lí luận văn hoá mác xít xuất sắc đã chiến đấu và hi sinh cho cách mạng đến hơi thở cuối cùng. Cống hiến lớn nhất của Hải Triều là trên lĩnh vực lí luận văn học và triết học qua hai cuộc tranh luận nổi tiếng “Duy tâm hay duy vật” và “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” trong suốt thập kỉ ba mƣơi của thế kỉ XX - một thập kỉ có ý nghĩa bản lề của cách mạng Việt Nam. Trong cuộc đấu tranh này, Hải Triều đã có công truyền bá tƣ tƣởng và quan điểm mác xít trên báo chí công khai, một tên tuổi chói sáng trên văn đàn Việt Nam những năm ba mƣơi. Sinh ra trong một gia đình văn hoá giàu lòng yêu nƣớc, Nguyễn Khoa Điềm chắc chắn đƣợc thừa hƣởng những phẩm chất ƣu việt của dòng họ ở cả tinh thần yêu nƣớc, cách mạng và truyền thống văn hoá. Nhƣng đây chƣa phải là những yếu tố quyết định làm nên tài năng và thành công. Chính sự trải nghiệm cuộc sống ở chiến trƣờng, sự sẻ chia với nhân dân những gian nan vất vả, đau thƣơng mất mát mở ra một hiện thực phong phú trƣớc mắt ngƣời làm thơ. Sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Khoa Điềm đã không bắt đầu từ phòng văn mà nảy mầm kết trái ở chính nơi đầu sóng ngọn gió của cuộc chiến đấu. Sống hết mình với hiện thực, rung động tận đáy lòng với cuộc sống và phát huy những sức mạnh tiềm tàng của mình, Nguyễn Khoa Điềm đã lƣu tên tuổi của mình vào nền thơ dân tộc. Những chặng đường sáng tạo. Sự ra đời của Đất ngoại ô và Mặt đường khát vọng trên chiến trường Bình Trị Thiên. Nguyễn Khoa Điềm sinh ra trong một gia đình có nhiều ngƣời hoạt động trong lĩnh vực văn học, đặc biệt là ngƣời cha Nguyễn Khoa Văn Hải Triều nên ngay từ nhỏ ông đã ham thích văn chƣơng. Thời thơ ấu và những năm tháng học tập trên miền Bắc, lòng yêu thích văn chƣơng đã giúp cho Nguyễn Khoa Điềm có đƣợc niềm say mê trong học tập và tích luỹ cho mình một vốn kiến thức sách vở phong phú và giàu có. Năm 1964 sau khi tốt nghiệp khoa Văn Đại học sƣ phạm Hà Nội, Nguyễn Khoa Điềm trở về quê hƣơng, hoà mình vào cuộc chiến đấu dữ dội tại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 28 chiến trƣờng Bình Trị Thiên. Tiếp xúc trực tiếp với chiến tranh, tận mắt chứng kiến tội ác của kẻ thù và cuộc chiến đấu gian khổ bất khuất của đồng chí, đồng bào - những điều đó đã khơi nguồn cảm hứng mãnh liệt cho hoạt động sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm. Trở về quê hƣơng, sau nhiều tháng trời hành quân ròng rã, Nguyễn Khoa Điềm đến Tỉnh uỷ Thừa Thiên và đƣợc phân công công tác vận động thanh niên của Thành uỷ Huế. Thời gian hai năm gắn bó với phong trào học sinh sinh viên thành phố Huế có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm. Đây là thời gian nhà thơ hoà mình vào tuổi trẻ thành phố bị chiếm đóng. Từ những "đêm không ngủ", những ngày "xuống đƣờng", Nguyễn Khoa Điềm đã tích luỹ cho mình vốn sống và sự trải nghiệm để sau này cảm hứng thơ ca trào lên thành những bài thơ đặc sắc trong tập Đất ngoại ô Con gà đất, Cây kèn và khẩu súng, Chiếc công sự giữa lòng phố, Đêm không ngủ… và đặc biệt là thành công của trƣờng ca Mặt đường khát vọng. Từ những tác phẩm đầu tay, Nguyễn Khoa Điềm đã bộc lộ tài năng thơ ca và hé mở một phong cách đang dần định hình. Năm 1970 Nguyễn Khoa Điềm đƣợc điều về hoạt động ở vùng giáp ranh. Trong hoàn cảnh ấy, việc sáng tác thật khó khăn nhƣng Nguyễn Khoa Điềm không nản lòng. Khát vọng sáng tạo nung nấu trong lòng và nhà thơ vừa làm công việc cơ quan vừa tranh thủ sáng tác. Nhà văn Trần Phƣơng Trà đã ghi lại hình ảnh Nguyễn Khoa Điềm trong những ngày tháng vất vả ấy “Nguyễn Khoa Điềm ít nói, lặng lẽ làm việc nhƣng bên trong cái dáng dong dỏng, gầy xanh ấy là sự suy nghĩ, nung nấu, kiếm lời giải đáp cho những vấn đề mà Điềm đang băn khoăn tìm tòi. Nhiều lần vừa gùi gạo lên dốc cao, Điềm vừa lẩm nhẩm làm thơ. Một lần, về đến nhà, chỉ kịp đặt gùi gạo xuống, vớ chiếc khăn mặt lau mồ hôi, Điềm ngồi vào bàn ghi ngay bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” [35,246]. Say mê, kiên trì và nhẫn nại trong công việc sáng tác, năm 1972 tập thơ đầu tay Đất ngoại ô của Nguyễn Khoa Điềm đƣợc xuất bản đã để lại ấn tƣợng sâu đậm trong lòng ngƣời đọc. Với Đất ngoại ô Nguyễn Khoa Điềm đã góp một tiếng hát mới mẻ có âm sắc, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 29 có phong cách vào dàn đồng ca của thơ chống Mỹ. Tập thơ gồm 31 bài, tái hiện sinh động hiện thực đời sống chiến trƣờng và thế giới nội tâm giàu rung động tinh tế, giàu xúc cảm của nhà thơ - chiến sĩ. Chủ đề của tập thơ phong phú tình cảm quê hƣơng, đất nƣớc, tình mẹ, tình bạn, tình yêu…và bao trùm lên tất cả là sự sôi động náo nức của một tâm hồn thơ trẻ nồng cháy lý tƣởng. Giọng thơ thiết tha sâu lắng mỗi khi viết về mẹ, về quê hƣơng, nhƣng khi đề cập đến những vấn đề của dân tộc, thời đại thì giọng thơ lại giàu tính triết lí và chính luận, khiến cho những câu thơ của ông có dáng dấp tráng ca - những câu thơ báo hiệu cho sự hào sảng phóng khoáng của trƣờng ca Mặt đường khát vọng sau này. Trƣờng ca Mặt đường khát vọng đƣợc viết tại khu sáng tác Trị Thiên - Huế tháng 10 năm 1971, trong hoàn cảnh khốc liệt dƣới những căn hầm, trong khoảng yên tĩnh giữa những đợt bom. Chính trong hoàn cảnh ấy, dƣờng nhƣ mọi cảm xúc về cuộc chiến đấu của tuổi trẻ, những trải nghiệm của nhà thơ trong thời gian hoạt động phong trào học sinh, sinh viên Huế có dịp dồn tụ, trỗi dậy mạnh mẽ, thôi thúc nhà thơ viết nên một bản hùng ca của tuổi trẻ miền Nam đấu tranh. Mặt đường khát vọng dài 9 chƣơng, trong đó một số chƣơng xuất sắc Lời chào, Đất nƣớc, Xuống đƣờng… Đặc biệt thành công nhất là chƣơng Đất nước. Đất nƣớc đã trở thành một bài thơ có sức sống độc lập, thể hiện trọn vẹn tài năng phong cách Nguyễn Khoa Điềm. Cùng với Đất nước của Nguyễn Đình Thi, bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm trở thành hai áng thơ đẹp nhất viết về Tổ quốc của văn học Việt Nam hiện đại. Với gần mƣời năm chiến đấu, làm việc và sáng tác ở chiến trƣờng Bình Trị Thiên, Nguyễn Khoa Điềm đã đóng góp cho nền thơ chống Mỹ hai tập thơ Đất ngoại ô và Mặt đường khát vọng. Số lƣợng ấy chƣa phải là nhiều song Nguyễn Khoa Điềm sớm khẳng định một tài năng, một phong cách thơ độc đáo. Đóng góp lớn nhất của ông cho thơ ca giai đoạn này, đó là cảm hứng mới mẻ về Đất nƣớc, Nhân dân. Tập thơ Đất ngoại ô và trƣờng ca Mặt đường khát vọng đã góp thêm tiếng nói sâu sắc, một phong cách riêng cho dàn đồng ca của thơ chống Mỹ. Ngôi nhà có ngọn lưả ấm, Cõi lặng –Thơ viết trong cuộc sống hoà bình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 30 Năm 1975 là bƣớc ngoặt lịch sử của đất nƣớc. Đất nƣớc độc lập, Bắc – Nam thống nhất. Một cuộc sống mới, một thời đại mới đang mở ra trƣớc mắt. Nhiệm vụ chung đã hoàn thành, giờ đây mỗi ngƣời lại trở về với những lo toan bộn bề của cuộc sống đời thƣờng. Hoàn cảnh thay đổi, văn học cũng chuyển mình. Cái tôi trữ tình sử thi không còn đóng vai trò chủ đạo, mà thay vào đó là những suy nghĩ, cảm xúc của con ngƣời trong bối cảnh xã hội và tinh thần mới cái tôi gắn với những vấn đề nhân sinh thế sự, cái tôi cá nhân đƣợc đề cao, cái tôi trở về với những giá trị truyền thống và nhân bản. Cuộc sống hiện lên phong phú hơn, màu sắc hơn, phức tạp hơn, và thơ Nguyễn Khoa Điềm viết sau chiến tranh cũng tập trung khai thác những ngõ ngách của đời sống tâm hồn con ngƣời, những vấn đề nhân sinh thế sự trong cuộc sống thƣờng nhật. Chiến tranh đã đi qua, bƣớc vào thời kì hoà bình, Nguyễn Khoa Điềm đảm nhiệm nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nƣớc. Không sôi nổi nhƣ trƣớc, thơ Nguyễn Khoa Điềm viết trong hoà bình thâm trầm, lặng lẽ hơn. Với số lƣợng ít ỏi, nhƣng mỗi bài thơ ông viết thời kì này đều chứa đựng sự suy tƣ trải nghiệm của một cây bút đang ở độ chín. Tất cả đều nguyên vẹn sự nhạy cảm tinh tế của một tâm hồn thơ. Năm 1986, tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm đƣợc ra đời với 25 bài thơ. Có nhiều ý kiến lo ngại rằng “Đã từ sớm, thơ của Nguyễn Khoa Điềm thừa chất trí tuệ. Có lẽ vì thế mà anh trăn trở với mình. Anh viết ít một phần do quá bận, do cách nhìn cuộc sống của anh quá tỉnh táo nên chất dạt dào hôm qua khó trở lại cùng anh”.Xuân Hoàng - Tạp chí văn học số 2/1985. Năm 1987 Nguyễn Khoa Điềm nhận Giải thƣởng của Hội nhà văn Việt Nam. Điều ấy càng chứng tỏ rằng Nguyễn Khoa Điềm viết ít không phải vì lí trí tỉnh táo lấn át chất men say của cảm xúc mà ông đang trong tâm trạng nung nấu mghĩ suy để tìm hiểu, thể hiện những nhu cầu mới của thời đại. Từ Đất ngoại ô, từ Mặt đường khát vọng Nguyễn Khoa Điềm trở về với Ngôi nhà có ngọn lửa ấm. Vẫn là sự tiếp liền của quá trình sáng tác nhƣng đã có một cái gì khác đi. Ở Đất ngoại ô và Mặt đường khát vọng tƣ duy và cảm xúc thơ Nguyễn Khoa Điềm là hƣớng ngoại - hƣớng về hiện thực chiến trƣờng và tranh đấu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 31 Nhà thơ hiện diện trong tƣ thế giao cảm và đối thoại, nhƣng dù xƣng "tôi" hay "chúng ta" thì đó vẫn là tiếng nói của một lớp ngƣời, một thế hệ hào hùng mà anh dũng. Ở Ngôi nhà có ngọn lửa ấm thơ không biểu lộ những đề tài xã hội trực tiếp, tƣ duy và cảm xúc thơ đã đi vào bề sâu nội tâm, bộc lộ những cảm nhận, suy nghĩ, tìm tòi, trăn trở về mọi khía cạnh buồn vui của cuộc sống đời thƣờng bình dị. Ngƣời đọc có thể dễ dàng cảm nhận, trân trọng thái độ và trách nhiệm của ông trƣớc cuộc đời. Thành công của tập thơ đã mở ra một con đƣờng có ý nghĩa cho thơ ca sau 1975. Sau một thời gian khá dài, Cõi lặng là tên tập thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm do nhà xuất bản văn học ấn hành năm 2007. Dù mái tóc đã bạc, dù không còn phải gánh vác nhiều trách nhiệm xã hội thì ngƣời ta vẫn nhận ra con ngƣời thi sĩ trong ông vẫn hài hoà nồng thắm cùng đất nƣớc theo cách riêng của ngƣời thi sĩ, gắn bó với những điều bình thƣờng giản dị nhất trong hơi thở nồng nàn của cuộc sống. Tập thơ gồm 56 bài đƣợc viết trong khoảng thời gian từ 2001 đến tháng 6 – 2007. Đó là thời gian ngắn và bận rộn với nhiều trọng trách, nhƣng ông vẫn dành cho thơ ca nguyên vẹn một tâm hồn thi sĩ - chiến sĩ trƣớc bao biến động của cuộc đời. Đồng thời Cõi lặng cũng là một không gian thơ của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm về bản thân, về quá khứ đấu tranh hào hùng của dân tộc, về hiện thực cuộc sống vô cùng phong phú và phức tạp này. Cõi lặng hoàn thiện hơn chân dung thơ Nguyễn Khoa Điềm. Ngƣời đọc cảm nhận nhịp đập trái tim yêu, trái tim thơ của ông vẫn đồng vọng với mùa xuân và cuộc đời. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 32 Chương II TỪ CẢM HỨNG THỜI ĐẠI ĐẾN PHONG CÁCH CÁ NHÂN NGUYỄN KHOA ĐIỀM Phong cách trong sáng tác của một nhà thơ không phải là một phạm trù nghệ thuật trừu tƣợng. Các dấu hiệu của phong cách dƣờng nhƣ nổi lên trên bề mặt của tác phẩm nhƣ một thể thống nhất "hữu hình" và có thể "tri giác" đƣợc. Cái "hữu hình", cái ta có thể "tri giác" cảm nhận ấy, trƣớc hết là cảm hứng thời đại cộng hƣởng với tài năng nghệ thuật, làm nổi bật những biểu hiện riêng biệt, độc đáo trong phong cách ngƣời nghệ sĩ. Những biểu hiện phong cách cá nhân chính là sản phẩm của sự thể hiện và cải tạo hiện thực theo quy luật thẩm mỹ, đồng thời bộc lộ và cắt nghĩa về chính mình của ngƣời nghệ sĩ trƣớc cái đẹp. 1. Cảm xúc lớn về nhân dân, đất nƣớc. Nhà nghiên cứu Hoài Anh cho rằng thơ Nguyễn Khoa Điềm phát sáng trong chủ đề sóng đôi Đất và Khát vọng. Cảm hứng Đất nƣớc ôm trùm chi phối những nguồn cảm hứng khác. Trong chiến tranh cảm hứng Đất nƣớc đi liền với khát vọng gìn giữ chủ quyền dân tộc chiến thắng kẻ thù xâm lƣợc. Chủ đề này đƣợc Nguyễn Khoa Điềm triển khai trong thơ từ không khí sử thi hào hùng của cuộc chiến đấu chống Mỹ. Để tái hiện tinh thần thời đại, thơ Nguyễn Khoa Điềm phơi bày những cảm xúc nồng nàn bay bổng trƣớc vận mệnh chung của toàn dân tộc. Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm cảm hứng sử thi anh hùng bao giờ cũng đi cùng cảm hứng lãng mạn và lí tƣởng hoá tạo nên những hình ảnh thơ kì vĩ hùng tráng Một mùa xuân tiếng đại bác rầm rầm Bản hành khúc những binh đoàn giải phóng Vút từng không tiếng gió phất cờ sao Ôi ngày hội của những người đứng lên đòi quyền được sống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 33 Cảm hứng sử thi bao giờ cũng song hành với chủ nghĩa yêu nƣớc và chủ nghĩa anh hùng. Cảm xúc sử thi là cảm xúc cao trào, dâng tràn lòng yêu nƣớc, tự hào trƣớc sự quật khởi của đất nƣớc. Trong tâm thức Nguyễn Khoa Điềm luôn quan niệm chính Nhân dân vô danh đã làm nên đất nƣớc. Có lẽ vì vậy mà chủ nghĩa anh hùng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không xuất hiện những tên tuổi vang dội mà nhà thơ thƣờng chú ý khai thác chất anh hùng trong những biểu hiện hàng ngày của cuộc chiến đấu ác liệt với những con ngƣời bình dị. Chủ nghĩa anh hùng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm xuất hiện với rất nhiều gƣơng mặt vô danh em bé liên lạc, ngƣời con gái chằm nón bài thơ, học sinh sinh viên đô thị bị tạm chiếm trong những ngày xuống đƣờng, những đêm không ngủ, bạn bè đồng chí, ngƣời lính lái xe… Ở phƣơng diện chiếm lĩnh hiện thực chiến trƣờng, thơ Nguyễn Khoa Điềm đã hòa vào dàn đồng ca hào hùng của thơ trẻ chống Mỹ. Nếu nhƣ trong âm hƣởng chung ngƣời ta có thể nhận ra những giọng điệu riêng biệt Hoàng Nhuận Cầm hồn nhiên mơ mộng; Phạm Tiến Duật hóm hỉnh tinh nghịch pha chút ngang tàng; Dƣơng Hƣơng Ly khoẻ khoắn thiên về ngợi ca; Bằng Việt sâu lắng và trong sáng… thì thơ Nguyễn Khoa Điềm là thứ thơ đằm sâu mà ngân vang. Độ sâu sắc của thơ Nguyễn Khoa Điềm phần nào nổi trội hơn nhiều tác giả trẻ khác chính là ở sự thể hiện phong phú và xúc động một chủ đề, một tƣ tƣởng Đất nƣớc của nhân dân đƣợc soi chiếu từ góc nhìn lịch sử - văn hóa và thông qua những trải nghiệm của chính nhà thơ. Cảm xúc về hiền Hướng dương thương nhớ vẫn nghiêng phía này. Từ những chất liệu đời tƣ Nguyễn Khoa Điềm còn dung chất liệu hiện thực cuộc sống để phát triển hình tƣợng ngƣời mẹ lên những tầm cao mới. Ngƣời mẹ trong chiến tranh trở nên phi thƣờng về sức chịu đựng. Kẻ thù chia cắt đất nƣớc là chia cắt tình cảm vợ - chồng, cha – con, mẹ phải gồng mình lên, bền gan kiên định nuôi con một mình trong nỗi nhớ chồng cồn cào cháy bỏng Mƣời sáu năm qua đi mẹ lại tiễn con ra trận. Cách biệt về không gian thời gian nhƣng cha, mẹ và em đều gần gũi, gắn bó trên trận tuyến diệt thù Em sẽ cùng cha đi dưới chiến hào / Mẹ xẻ, mẹ đào trong bom đạn Mƣời sáu năm lớn lên Nguyễn Khoa Điềm dựng lên trong thơ rất nhiều hình ảnh ngƣời mẹ. Đó là bà mẹ Vân Kiều hoà tình thƣơng con vào tình yêu bộ đội, yêu đất nƣớc đã hiến dâng những đứa con thân yêu cho Cách mạng. Đó là bà mẹ thành phố có ngƣời con tham gia tranh đấu, biểu tình bị Nguỵ bắt rồi phải trở thành ngƣời lính phía bên kia. Học hành thành dang dở, ngƣời con để lại cho mẹ những tờ giấy trắng - những niềm hy vọng trở về. Trang giấy ấy dƣới bàn tay mẹ đã "thành truyền đơn mặt trận / Gọi anh em binh lính quay về". Không chỉ lần lƣợt tiễn chồng con ra trận mà ngƣời mẹ cũng trở thành chiến sĩ. Bà mẹ Vân Kiều đã địu con đi để dành trận cuối, bà mẹ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 93 thành phố đã hoạt động trong lòng địch. Mẹ ra trận đối đầu với cái ác, cái xấu xa, nham hiểm mà ung dung thƣ thái, chủ động và bình tĩnh đến nhƣờng nào. Mẹ ra trận với vũ khí là đôi bàn tay chỉ mặt thằng gian vẫy ngƣời ngay, với mái tóc bời bợi sợi bạc để gọi dân làng xuống đƣờng, với trái tim cũng là mìn chông...Hình ảnh mẹ mộc mạc giản dị, nhỏ bé mà tiềm tàng sức mạnh làm cho quân thù phải khiếp sợ Mẹ đi vào huyện, mẹ tiến vào thành Mẹ đi đòi nhà, mẹ giành lại đất Mẹ đi đấu tranh trên con đƣờng cay cực... Trong hình tƣợng ngƣời mẹ, có hình ảnh ngƣời mẹ hiền của chính nhà thơ trong những câu thơ thƣơng nhớ. Rộng hơn, là những bà mẹ nghèo lam lũ ngoại ô, những ngƣời mẹ miền Nam tay không thắng giặc, và cao hơn nữa trong xu hƣớng triết luận và tinh thần sử thi, ta gặp hình tƣợng bà mẹ Việt Nam, bà mẹ Tổ Quốc. Hình tượng thơ đặc thù mang nét riêng của phong cách Nguyễn Khoa Điềm. Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm ta thấy ngoài những hình tƣợng thơ tiêu biểu nhƣ đã đề cập ở trên, hình tƣợng trong thơ ông còn nhƣ đƣợc “bứng” từ cuộc sống đƣa vào. Hiện thực trong thơ ông đƣợc hiện lên qua những hình ảnh sống động, mang hơi thở của cuộc sống nhƣng lại thể hiện đƣợc nét riêng trong phong cách Nguyễn Khoa Điềm. Ở đó, những hình ảnh con gà đất, cây kèn và khẩu súng, áo trắng, mặt đường... Là những hình ảnh chân thực tƣơi ròng chất sống, đƣợc nhìn qua lăng kính nhà thơ nâng lên thành những hình tƣợng thơ độc đáo chỉ thấy trong thơ Nguyễn Khoa Điềm. Từ hình ảnh con gà đất bảy màu đồ chơi của con trẻ đến hình ảnh cây kèn và khẩu súng, Nguyễn Khoa Điềm đã dựng lên hình tƣợng biểu trƣng cho ba chặng đƣờng trong cuộc đời của ngƣời thanh niên vùng tạm chiếm. Tuổi thơ tràn đầy hạnh phúc trong hơi thở mùa xuân và sắc màu của con gà đất. Nhƣng tuổi thơ ấy trôi qua nhanh chóng, bất ngờ nhƣ con gà đất chợt vỡ tan trong tay con trẻ. Giờ đây, anh phải làm nghề thổi kèn để kiếm sống, tiếng kèn nhƣ những tiếng nấc âm thanh cất lên tức tƣởi, tủi nhục, nhƣng không tuyệt vọng Muốn ngất hơi /Anh bỗng mơ một con gà bảy sắc / Nở như hoa trên môi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 94 Cùng với những hình tƣợng độc đáo mang dấu ấn riêng, Nguyễn Khoa Điềm còn sử dụng hình tƣợng áo trắng - mặt đường để tái hiện quá trình xuống đƣờng tranh đấu của phong trào học sinh, sinh viên thành phố những năm chống Mỹ. Chính hình tƣợng áo trắng và mặt đường nó đã khu biệt Nguyễn Khoa Điềm với nhiều tác giả khác cùng thời Anh cùng em đi ra mặt đường Đại lộ hai hàng mở cửa Áo trắng hiện lên từ mỗi căn nhà Rất tƣơi, rất khoẻ Nhƣ những cánh chim câu thành phố Bay ra... Nguyễn Khoa Điềm đã sáng tạo nên những hình ảnh thơ bay bổng, khoẻ khoắn trẻ trung. Áo trắng - mặt đường là biểu tƣợng kép của cuộc đấu tranh. Vũ khí của họ không phải là súng đạn mà là tuổi trẻ, là sức mạnh của lẽ phải. Mặt đường là mặt trận, áo trắng sinh viên hoà vào dòng thác nhân dân đấu tranh trực diện với kẻ thù. Nếu nhƣ vùng thẩm mỹ của Phạm Tiến Duật là Trƣờng Sơn và những ngƣời lính lái xe, thì với Nguyễn Khoa Điềm đó là màu áo trắng tràn ngập mặt đƣờng của phong trào học sinh, sinh viên những năm chống Mỹ. Đây cũng là nét riêng trong phong cách Nguyễn Khoa Điềm. Thành công trong việc lựa chọn và sử dụng hình tƣợng, hình tƣợng mang tính biểu trƣng đã tạo nên sự đặc sắc cho thơ Nguyễn Khoa Điềm. Những hình ảnh chân thực trong cuộc sống đã đƣợc nhà thơ chắt lọc, tái tạo một cách chân thực mang ý nghĩa tiêu biểu điển hình, gây đƣợc cảm xúc mạnh mẽ ở ngƣời đọc. Hình tƣợng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên đƣợc chiều sâu của cuộc sống và lí tƣởng thẩm mỹ của thời đại. 3. Vận dụng nhuần nhuyễn chất liệu văn hoá dân tộc. Ảnh hưởng của thể loại sử thi dân gian đối với trường ca "Mặt đƣờng khát vọng". Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 95 “Trƣờng ca là một tác phẩm thơ có dung lƣợng lớn, thƣờng có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình” [10]. Trƣờng ca là một hiện tƣợng tiêu biểu của thời đại mang tính sử thi. Chất “sử thi” trong trƣờng ca chính là sự kế thừa của thể loại sử thi dân gian. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “sử thi còn gọi là anh hùng ca là thể loại tự sự xuất hiện rất sớm trong lịch văn học các dân tộc nhằm ca ngợi sự nghiệp các anh hùng có ý nghĩa toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh lịch sử. Về kết cấu sử thi là một câu chuyện đƣợc kể đầu đuôi với quy mô lớn vì theo Heghen “nội dung và hình thức của nó thực sự là toàn bộ các quan niệm, toàn bộ thế và cuộc sống của một dân tộc đƣợc trình bày dƣới hình thức khách quan của một biến cố thực tại”. Cuộc kháng chiến gian khổ của dân tộc ta đã làm nảy sinh biết bao bản trƣờng ca Bài ca chim Chơ Rao - Thu Bồn; Ngọn giáo búp đa - Ngô Văn Phú; Những người đi tới biển - Thanh Thảo; Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh... Hơn bất cứ thể loại nào, trƣờng ca với đặc trƣng ƣu thế của nó đã có mặt ở những nơi đầu sóng ngọn gió để kịp thời phản ánh những biến động lịch sử, để ngợi ca cuộc chiến đấu đầy khí phách anh hùng của dân tộc ta. Hòa cùng không khí đó, trƣờng ca “Mặt đƣờng khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm ra đời năm 1971 xuất bản 1974 đã đƣợc đông đảo bạn đọc tiếp nhận. Trƣờng ca Mặt đường khát vọng cũng nhƣ trƣờng ca thời kì kháng chiến chống Mỹ là trƣờng ca trữ tình bởi nó tái hiện đời sống trong tính chủ quan của nhà thơ và thế giới nghệ thuật cũng đƣợc tổ chức theo nguyên tắc này. Đây là nét mới mẻ của trƣờng ca thời kì chống Mỹ khác với trƣờng ca sử thi, trƣờng ca tự sự trƣớc đó. Mặt khác còn bị chi phối bởi những yêu cầu của một thể loại có kết cấu dài hơi, nên nó phải chú ý đến việc xây dựng nhân vật và tuyến sự kiện. Điều này cũng tƣơng ứng với lối triển khai của sử thi dân gian. Để có tuyến sự kiện trƣớc hết ngƣời ta cần tìm đến với cốt truyện. Ở trƣờng ca cốt truyện không nhất thiết phải có nhiều tình tiết và hành động mà cốt chỉ tạo ra một tình huống thống nhất cho tác phẩm. Trong quá trình vận động của thể loại trƣờng ca thì càng về sau tuyến sự kiện càng có xu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 96 hƣớng lỏng lẻo. Tuy vậy chúng vẫn đóng vai trò quan trọng trong kết cấu. Tuyến sự kiện ở trƣờng ca Mặt đường khát vọng có vai trò quan trọng. Ở mỗi chƣơng của trƣờng ca, hệ thống chi tiết sự kiện đƣợc huy động một cách hiệu quả . Ở trƣờng ca, tuyến sự kiện bao giờ cũng gắn với một hệ thống nhân vật. Tuy nhiên trƣờng ca không miêu tả nhân vật với tính cách và hành động của nhân vật nhƣ trong truyện hoặc tiểu thuyết. Trƣờng ca chỉ chú ý tới các nhân vật có những chi tiết và hành động chứa đựng chất thơ của hiện thực. Có nhiều tuyến nhân vật trong trƣờng ca Mặt đường khát vọng. Đó là nhân vật tập thể trong quá trình nhận thức và đấu tranh dành độc lập, nhân vật “anh”, “em” trữ tình đằm thắm trong chƣơng “Đất nƣớc” và đặc biệt là nhân vật xƣng “ta”, “tôi”. Khác với thơ trữ tình, nhân vật ở ngôi thứ nhất này ở trƣờng ca không trình bày cảm xúc của mình một cách tự do bởi nó bị chi phối bởi tuyến sự kiện. Một mặt nó không xuất hiện với tƣ cách cá nhân mà với tƣ cách là ngƣời đại diện cho thế hệ, cho lớp ngƣời, cho cộng đồng, cho dân tộc. Mặt khác, nó còn thể hiện chức năng thể loại là ngƣời dẫn chuyện, ngƣời gợi ý mách bảo, ngƣời cung cấp thông tin, ngƣời điều tiết phân bố và liên kết các sự kiện lại thành chỉnh thể. Nhân vật ở ngôi thứ nhất ấy cũng có thể là chính nhà thơ tham gia, tác động vào kết cấu tác phẩm với tƣ cách là nhân vật tâm trạng và nhân vật hành động. Nhờ vậy mà nhịp điệu phát triển của trƣờng ca sôi nổi, khẩn trƣơng, hào hứng. Ở trƣờng ca này tác giả đã hoà mình vào không khí tác phẩm, sống với những chi tiết sự việc và suy nghĩ hành động bằng chính con ngƣời trong tác phẩm. Văn học kháng chiến đã khẳng định trƣờng ca nhƣ một thể loại mới tiêu biểu, đặc trƣng của văn học giai đoạn này. Trƣờng ca Mặt đường khát vọng tuy phát triển từ thơ trữ tình nhƣng nó ảnh hƣởng rất rõ nét của sử thi dân gian về dung lƣợng, tính chất anh hùng ca chủ đạo, sự kiện dồi dào, nhân vật đại diện cho tập thể. Nguyễn Khoa Điềm đã biết kế thừa phát triển cái đã có để phù hợp với hiện thực và thẩm mỹ thời đại. Nhờ sự bộc lộ đậm nét cái chủ quan và khả năng biểu hiện mang màu sắc riêng mà trƣờng ca của Nguyễn Khoa Điềm có những nét mới lạ so với bất cứ một trƣờng ca nào khác cùng thời. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 97 Chất liệu văn học dân gian trong thơ Nguyễn Khoa Điềm. Dân tộc ta có một nền văn học dân gian phong phú và có truyền thống lâu đời. Nền văn học ấy thể hiện sức sống, kinh nghiệm đấu tranh xã hội và tự nhiên, thể hiện trí tuệ thông minh và những những ứng xử tốt đẹp của nhân dân lao động qua hàng ngàn năm lịch sử. Khai thác đƣợc tất cả năng lực biểu hiện và vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ ca dân tộc để biểu hiện hiện thực phong phú của đời sống, đó là cơ sở chủ yếu tạo nên tính dân tộc trong thơ Nguyễn Khoa Điềm. Trong chƣơng Đất nước, Ngôn ngữ thơ đƣợc sử dụng từ chất liệu văn học dân gian với tần số lớn. Tuy nhiên chất liệu văn học dân gian trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không còn trong chính dạng bản thân của nó, một sự sao chép sản phẩm cộng đồng mà nó đã đƣợc chuyển hóa vào lời chữ, giọng điệu, cách cảm, cách nghĩ của nhà thơ tạo nên bản sắc riêng trong thơ ông. Chúng ta có một kho tàng ca dao tục ngữ đậm đà phong vị trữ tình, kết tinh những tình cảm cao quý của nhân dân, những kinh nghiệm lao động sản xuất và đấu tranh. Ca dao tục ngữ đã thấm vào Nguyễn Khoa Điềm một cách tự nhiên trong cách nhìn nhận về “Đất nƣớc”- một đất nƣớc giàu truyền thống văn hóa. Dấu tích của ca dao tục ngữ liên tục đƣợc triển khai trong mỗi câu thơ. "Tay nâng chén muối đĩa gừng / Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau". Lời ca dao xƣa đã chuyển hóa nhuần nhị trong câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm Cha mẹ thƣơng nhau bằng gừng cay muối mặn Đất nƣớc là một cái gì đó không hề trừu tƣợng mà trái lại rất gần gũi nhƣ hơi thở cuộc sống, gắn liền với những câu ca dao, dân ca duyên dáng ý nhị Đất nƣớc là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm. Câu thơ trên gợi nhớ bài ca dao “Khăn thƣơng nhớ ai”. Không chỉ thế, những câu ca dao ca ngợi tình nghĩa giữa con ngƣời "Cầm vàng mà lội qua sông / Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng" đƣợc nhà thơ khai thác và thể hiện trong những dòng thơ Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 98 Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội. Những câu chuyện cổ tích nhƣ Tấm Cám, Cây Khế, truyện Trạng Quỳnh là những câu chuyện dân gian mà ngƣời Việt Nam ai cũng biết đã trở thành chất liệu và chuyển hóa thành thơ Đánh lừa thuồng luồng xăm mình xăm mặt Đánh lừa thằng giặc là truyện Trạng Quỳnh... Rằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu Cây khế chua có đại bàng đến đậu Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta Lịch sử đất nƣớc đã ghi nhận nhiều sự “hóa thân cho dáng hình xứ sở”. Nhiều gƣơng dựng nƣớc và giữ nƣớc đã trở thành truyền thuyết, tạo một trƣờng văn hóa đặc sắc cho dân tộc Việt Những đá Vọng Phu, những hòn Trống Mái, những ao đầm của chân ngựa Thánh Gióng, con Rồng, ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm... Sự pha trộn giữa các yếu tố vật chất với các giá trị văn hóa tinh thần đã khiến cho những câu thơ giản dị mang vẻ đẹp lấp lánh. Nguyễn Khoa Điềm đã biết khai thác chất liệu văn học dân gian ở những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết có tác dụng nhƣ việc sử dụng các điển tích, điển cố văn học nhằm làm cho ngôn ngữ thơ thêm cô đọng, hàm xúc, tạo nên màu sắc dân gian rất riêng trong thơ ông. Trong hoàn cảnh đất nƣớc có chiến tranh, thơ ca phải nhằm động viên mọi ngƣời chiến đấu. Nhà thơ đã chọ cho mình một con đƣờng đi riêng khi chọn chất liệu từ đời sống dân gian, một đời sống vốn gắn bó thân thiết với tất cả ngƣời Việt Nam, để thể hiện một hình ảnh Đất nƣớc gần gũi và giản dị nhất. Cha ông ta bằng sự giản dị đã làm nên Đất nƣớc vẹn toàn, đẹp đẽ, với một tinh thần dân tộc cao cả và khát vọng duy trì bản sắc dân tộc, “truyền giọng điệu cho con mình tập nói”, “gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân”, cha ông đã truyền lại cho chúng ta truyền thống văn hóa nhƣ ngày hôm nay. Nguyễn Khoa Điềm lựa chọn hƣớng sáng tác trên trong hoàn cảnh chiến tranh cũng nhằm đánh thức bổn phận đó trong thanh niên đô thị miền Nam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 99 Ngôn ngữ giàu màu sắc địa phương. Mỗi nhà thơ, nhà văn sinh ra và lớn lên trong quá trình sáng tác của mình không thể không gắn bó với một vùng miền nhất định. Trong quá trình sáng tạo, nếu nhƣ tiếng phổ thông là phƣơng tiện chung nhất của tác phẩm thì tiếng địa phƣơng lại nhƣ là một dấu hiệu biểu hiện phong cách và cá tính của nhà thơ. Tiếng địa phƣơng có vai trò làm nổi bật cá tính, tâm lí con ngƣời ở mỗi vùng đất quê hƣơng cụ thể. Nó có vai trò biệt hoá những cái chung. Trong thực tiễn sáng tác thơ ca của ta, nhiều nhà thơ đã biết phát huy tích cực những mặt ƣu điểm của tiếng địa phƣơng và đã đạt đƣợc những thành công đáng ghi nhận. Qua tiếng địa phƣơng, ngƣời đọc sẽ đoán nhận đƣợc những nhân vật miêu tả trong tác phẩm thuộc vùng quê nào, cá tính của họ ra sao. Là ngƣời sinh ra lớn lên ở đất Huế, Nguyễn Khoa Điềm tự hào mang trong mình nét hồn hậu của vùng văn hóa Cố đô. Trong những tác phẩm của mình, tiếng Huế cũng đƣợc đƣa vào một cách duyên dáng ý nhị. Tiếng địa phƣơng đã làm cho tác phẩm của ông thêm gần gũi hơn, khiến trƣờng cảm xúc của ngƣời đọc đƣợc gia tăng. Những đại từ chỉ ngƣời mang đậm chất Huế đã đƣợc thể hiện trong thơ khiến cho con ngƣời đƣợc miêu tả mang tính sinh động cụ thể -O phó bí thƣ mƣời bảy tuổi -Có khi nhớ mạ Sợ các chú cƣời Chiếc nôi vàng. Những từ địa phƣơng “chi”, “nớ”, “rứa”, “hoài”, “ráng” đã làm tăng tính đằm thắm, trữ tình cho câu thơ mà chỉ đọc lên ngƣời ta đã liên tƣởng ngay đến xứ Huế Ôi thành phố yêu thƣơng Ta xa ngƣời nhƣ thế nớ Tiễn bạn cuối mùa đông Anh sẽ nói trăm lần anh sẽ sống Và trẻ hoài nhƣ buổi ấy chia li Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 100 Buổi hẹn hò lớn lao Vuốt tóc con mẹ bảo “Ráng cho kịp anh em” Thưa mẹ con đi Ta yêu ngƣời nhƣ rứa Đƣa ngƣời về cho ta Những bài thơ tình viết trong chiến tranh Ngôn ngữ giàu màu sắc địa phƣơng không chỉ thể hiện ở tiếng địa phƣơng mà còn thể hiện ở những câu thơ sử dụng địa danh riêng. Từ lâu các nhà nghiên cứu đã nhận ra rằng tên riêng chỉ địa điểm địa danh, nhất là những tên gọi ít quen thuộc có khả năng tạo ra một thứ ma thuật âm thanh tạo nên bản sắc riêng của tác phẩm. Vào những năm 50, Tố Hữu đã có những câu thơ tuyệt diệu Mƣờng Thanh, Hồng Cúm, Him Lam Hoa mơ lại trắng vƣờn cam lại vàng Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, tên riêng của các địa danh xứ Huế đƣợc sử dụng phổ biến. Việc đƣa địa danh vào trong thơ thể hiện tấm lòng yêu quê hƣơng tha thiết của ông. Vẻ đẹp dịu dàng thơ mộng của sông Hƣơng đã xuất hiện bao lần trong thơ ông, nhƣng ngƣời đọc vẫn thấy thật mới mẻ khi sông Hƣơng êm đềm bỗng trở thành dòng sông anh hùng trong những tháng năm đấu tranh chống kẻ thù xâm lƣợc Cả ngoại ô làm chiến luỹ sông Hương Đất ngoại ô.Trăm năm rồi ta đến trước sông Hương / Vẫn soi thấy niềm đau và nỗi giận Mặt đƣờng khát vọng. Có khi sông Hƣơng lại trở thành ngƣời bạn tâm tình của nhà thơ Sông Hƣơng ơi sông Hƣơng Ngƣơi còn nguồn với bể Để đi và để đến Còn ta hai lăm tuổi Trôi cạn trên mặt đƣờng Mặt đường khát vọng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 101 Nhiều địa danh đƣợc nhắc đến trong thơ mang ý nghĩa riêng chỉ có ở Huế không thể lẫn với vùng miền nào khác của Tổ quốc -Trƣớc Phu Văn Lâu lá cờ vàng nhƣ tàu cải úa. -Qua hoàng thành cha ông gọi tên tôi ù ù trong họng súng thần công. -Góc chợ Xép nơi nào ngƣời đến ở. -Mặt trời vàng long lanh trên chợ Gia Lạc. -Và cầu Trường Tiền Nhƣ một dấu nối. Sắc thái địa phƣơng còn thể hiện ở những sự kiện, câu chuyện đã đi vào trong kí ức của ngƣời dân địa phƣơng và đƣợc lƣu truyền rộng rãi. Những sự kiện câu chuyện này cũng đƣợc phản ánh trong thơ Nguyễn Khoa Điềm Đó là ngày kinh đô thất thủ 23 tháng 5 âm lịch năm 1884. Nắng tháng năm run rẩy những oan hồn / Người còn sống nhớ “ngày thất thủ” Đất ngoại ô. Đều vẽ ngày thất thủ kinh đô...Mặt đƣờng khát vọng; Đó là sự biến kinh thành Huế, Tôn Thất Thuyết khởi nghĩa chống Pháp năm 1885. Đó là ngày 13/7 vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vƣơng Hịch Cần Vương tưởng còn vang qua chín cửa; Rồi những câu chuyện mang đậm nét văn hoá địa phƣơng nhƣ Những câu thơ mụ Đội, chuyện mụ lý ông cò, những vườn thơ xưa...cũng tô đậm bản sắc Huế trong thơ Nguyễn Khoa Điềm. Lịch sử Huế, văn hóa Huế hơi thở hàng ngày của Cố đô thấm vào máu thịt ông và cảm về Huế chan chứa trong những câu thơ của ông. Chính điều này đã góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho thơ Nguyễn Khoa Điềm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 102 PHẦN KẾT LUẬN Thơ ca phải thực sự dựa vào sự giàu có của tâm hồn, bản lĩnh cá nhân. Nguyễn Khoa Điềm đã từng bày tỏ những suy nghĩ về thơ “Một cách nhìn cuộc sống đúng hƣớng và tin yêu lạc quan, một tâm hồn giàu cảm xúc để đồng cảm, một trí tƣởng tƣợng phong phú luôn luôn mới mẻ sáng tạo là những nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với một tâm hồn thơ. Khi những năng lực tinh thần ấy lại gắn bó với một cuộc đời thực có nhiều mối liên hệ xã hội phong phú luôn đƣợc bối đắp từ cộc sống xung quanh, đấy là điều kiện đển xuất hiện một tài năng thơ” [13,91]. Soi chiếu ý kiến trên vào đƣờng đời và đƣờng thơ của Nguyễn Khoa Điềm, có thể khẳng định một điều Nguyễn Khoa Điềm là một tài năng thơ thực sự. Một tài năng bao giờ cũng đi liền với một phong cách sáng tạo. Khảo sát phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm là một hƣớng đi cần thiết trên con đƣờng chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm. 1. Để làm nổi bật phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm, luận văn đi theo hƣớng khảo sát toàn bộ sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm, trên cơ sở đó tìm hiểu những nét cơ bản trong sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ trên cả chặng đƣờng sáng tác. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm gồm hai mảng lớn thơ viết trong chiến tranh và thơ viết trong hòa bình với những mốc đánh dấu là các tập thơ Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm và Cõi lặng. Hoàn cảnh xã hội thay đổi với sự vận động từ chiều cao rộng hƣớng ngoại sang chiều sâu của hƣớng nội, nhƣng bản chất thơ trữ tình Nguyễn Khoa Điềm không thay đổi, làm nên tính thống nhất, toàn vẹn của phong cách nhà thơ. Dù ra đời trong hoàn cảnh nào, thơ Nguyễn Khoa Điềm vẫn hiện lên một trí tuệ sắc sảo, giàu tri thức sách vở và cuộc đời; với một tâm hồn giàu cảm xúc, nhạy cảm, một tấm lòng thuỷ chung với lý tƣởng mà mình đã chọn và luôn tự đặt cho mình trách nhiệm trƣớc cuộc đời. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 103 2. Ở thời kì chiến tranh, sống trực tiếp giữa lòng cuộc chiến đấu. Thơ Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện cảm động những xúc cảm và ý thức về dân tộc, thời đại trong tâm hồn những con ngƣời yêu nƣớc. Thời đại chống Mỹ đi vào thơ Nguyễn Khoa Điềm không phải bằng sự miêu tả trực tiếp mà khúc xạ qua nhận thức và trải nghiệm máu thịt của riêng nhà thơ nên đã đƣợc nâng lên tầm cao và chiều sâu riêng. Để khẳng định chân lí vĩnh hằng của dân tộc lòng yêu nƣớc, căm thù giặc và ý chí chiến đấu bất khuất... Nguyễn Khoa Điềm đã vận dụng linh hoạt trong thơ sự sắc sảo của một trí tuệ ƣa khái quát triết lý, vốn kiến thức phong phú về lịch sử - văn hóa và sự trải nghiệm của bản thân. Bởi vậy, vừa hòa chung với tiếng thơ chống Mỹ của cả nƣớc, của thế hệ trẻ, thơ Nguyễn Khoa Điềm vẫn có một phong cách riêng. Đặc biệt, Nguyễn Khoa Điềm đƣa vào trong thơ một mảng hiện thực quan trọng của thời đại chống Mỹ không khí sục sôi của phong trào học sinh, sinh viên các đô thị bị tạm chiếm miền Nam trên đƣờng tranh đấu. Tiếng thơ có một năng lực tập hợp nhanh chóng trên một lý tƣởng xã hội chung những hoàn cảnh, tâm trạng gần gũi quen thuộc. Nguyễn Khoa Điềm đã hoà quyện cái tôi nhà thơ vào đối tượng trữ tình để cất lên tiếng nói của tuổi trẻ miền Nam. Cùng một thế hệ, sinh ra và lớn lên trong thời đại không bình yên, nên tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm cất lên có sức lay động tâm hồn tuổi trẻ. Có thể nói, đề tài về tuổi trẻ miền Nam đấu tranh đã đƣợc thể hiện mạnh mẽ và đầy ấn tƣợng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, để khi nói về mảng đề tài này, ngƣời ta phải kể đến Nguyễn Khoa Điềm nhƣ một cây bút tiêu biểu. Bƣớc vào cuộc sống hoà bình, tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm trở nên thâm trầm và lặng lẽ tìm về những cảm xúc sâu thẳm trong tâm hồn. Thơ ông không sôi nổi nhƣ trƣớc mà lắng đọng, hàm súc hơn. Đằng sau những câu chữ ít ỏi, ngƣời đọc vẫn cảm nhận ra một cái tôi ân tình sau trước, trân trọng cuộc sồng ngày hôm nay vì biết ơn ngày hôm qua máu đổ. Thấm thía giá trị của hoà bình, nhà thơ tự đặt cho mình trách nhiệm với cuộc sống còn ngổn ngang trong xây dựng và đổi mới. Ở đây còn xuất hiện một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm luôn rộng mở, giao hòa cùng thiên nhiên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 104 đất trời quê hƣơng; một cái tôi dồn nén tâm trạng lo âu nhưng vẫn lạc quan tin tưởng vào cuộc sống dù im tiếng súng nhƣng chƣa bình yên; một cái tôi luôn chiêm nghiệm và khám phá thế giới nội tâm của mình. 3. Trên con đƣờng thơ của mình, thơ Nguyễn Khoa Điềm luôn có những biến đổi mới mẻ phù hợp với từng hoàn cảnh sáng tác. Trong chiến tranh, tâm hồn Nguyễn Khoa Điềm cháy bỏng những cảm hứng lớn lao về Nhân dân - Đất nƣớc. Là một nhà thơ trẻ tự nguyện nhập cuộc và đƣợc thử thách trong chiến tranh, thơ Nguyễn Khoa Điềm cất lên tiếng nói của thế hệ mình về ý thức trách nhiệm trƣớc vận mệnh đất nƣớc. Trong hòa bình, thơ Nguyễn Khoa Điềm vẫn vang vọng âm hƣởng sử thi hoành tráng, hào hùng. Nhƣng cuộc sống sau chiến tranh còn nhiều bộn bề và bức xúc, chất sử thi nhạt dần nhường chỗ cho cái tôi thế sự. Nhà thơ đứng ở vị trí con ngƣời đời thƣờng để quan sát, chiêm nghiệm những vấn đề thế sự và biểu hiện thái độ tích cực xã hội của thơ sự không bằng lòng với những điều phi lí, dự cảm âu lo trƣớc những biểu hiện không tốt đẹp đang nảy sinh... Ở từng thời kì sáng tác thơ Nguyễn Khoa Điềm có những biến đổi song song với nhiều biến động của thời đại nhƣng chúng ta vẫn nhận ra ở Nguyễn Khoa Điềm một phong cách ổn định đặc trƣng. Thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự hội tụ kết tinh của nhiều nguồn văn hoá. Đậm nét nhất là văn hóa dân tộc với những truyền thuyết cổ tích, ca dao, truyền thống lịch sử qua một lớp ngôn ngữ dân gian cổ xƣa và thuần khiết. Nguyễn Khoa Điềm là ngƣời xứ Huế, nên tâm hồn Huế cũng đã trở thành một nét phong cách riêng của nhà thơ. Chính cảm quan về lịch sử, văn hóa, âm nhạc đã làm thành nét duyên riêng không thể lẫn và gây ấn tƣợng đặc biệt với độc giả của thơ Nguyễn Khoa Điềm. thơ Nguyễn Khoa Điềm, các phƣơng tiện nghệ thuật cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nét riêng trong phong cách. Tổ chức các phƣơng tiện nghệ thuật chính là hình thức của một nội dung, là phƣơng tiện thể hiện của một phong cách. Thơ Nguyễn Khoa Điềm có sự đa dạng trong giọng điệu, và hình tƣợng cũng phong phú giàu tính biểu trƣng. Bằng những giọng điệu và hình tƣợng phù Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 105 hợp, Nguyễn Khoa Điềm đã có những bài thơ đạt đến vẻ đẹp cổ điển, có sức sống lâu bền, tiêu biểu cho thành tựu một giai đoạn thơ Việt Nam. “Thơ là một cách chuyền lửa cho muôn đời sau” Chế Lan Viên. Không sáng rực, chói lọi nhƣng ngọn lửa trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự ấm áp của những tình cảm đẹp về đất nƣớc và con ngƣời đã sƣởi ấm cho cả một thế hệ và có lẽ cả những thế hệ mai sau. Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, ẩn sau bề mặt câu chữ là một gƣơng mặt thi sĩ, một chân dung tâm hồn giàu cảm xúc, nhạy cảm với những vang động lớn lao cuả thời đại và những rung động tinh tế của lòng ngƣời. Những rung động này đã tạo nên chất thơ sâu lắng nồng nàn, tạo nên sự đồng cảm giữa những tâm hồn, giữa tác giả và độc giả, nhƣ một nét phong cách định hình rất sớm và ngày càng rõ nét của thơ Nguyễn Khoa Điềm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 106 THƢ MỤC THAM KHẢO 1. Hoài Anh. Nguyễn Khoa Điềm với chủ đề thơ sóng đôi Đất và khát vọng, Báo văn nghệ, số 4/2002 2. Vũ Tuấn Anh. Văn học Việt Nam hiện đại nhận thức và thẩm định, NXB Khoa học xã hội, 2001. 3. Nguyễn Văn Cảnh. Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, 1987. 4. Hữu Đạt. Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000. 5. Hữu Đạt. Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2001. 6. Hà Minh Đức. Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca, NXB Văn học, 1977. 7. Hà Minh Đức. Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Khoa học xã hội, 1998. 8. Hà Minh Đức. Văn chương tài năng và phong cách, NXB Khoa học xã hội, 2001. 9. Hà Minh Đức. Lý luận văn học, NXB Giáo dục, 2002. 10. Nguyễn Khoa Điềm. Đất ngoại ô, NXB Giải phóng, 1972. 11. Nguyễn Khoa Điềm. Mặt đường khát vọng, NXB Văn nghệ giải phóng, 1974. 12. Nguyễn Khoa Điềm. Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, NXB Tác phẩm mới, 1986. 13. Nguyễn Khoa Điềm. Cõi lặng, NXB Văn học 2007. 14. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi. Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, 1997. 15. Xuân Hoàng. Một miền thơ và thơ một miền, Tạp chí văn học, số 2/1983. 16. Khrapchenko Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, NXB Tác phẩm mới, 1978. 17. Lê Đình Kỵ Nhận diện thơ sau cách mạng tháng 8, Báo Văn nghệ, số 3/1995. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 107 18. Tôn Phƣơng Lan. Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng, Tạp chí văn học, số 5/1976. 19. Mã Giang Lân. Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, NXB Giáo dục, 2004. 20. Mã Giang Lân. Thơ hiện đại Việt Nam và những lời bình, NXB Giáo dục, 2003. 21. Mã Giang Lân. Thơ hình thành và tiếp nhận, NXB Đại học Quốc gia Hà Nôi, 2004. 22. Nguyễn Văn Long. Văn học Việt Nam trong thời đại mới, NXB Giáo dục, 2003 23. Nguyễn Văn Long. Tiếp cận và đánh giá văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám, NXB Giáo dục, 2001. 24. Phƣơng Lựu. Học tập tư tưởng văn nghệ của Lênin, NXB Văn học, 1979. 25. Phƣơng Lựu. Tìm hiểu một nguyên lý văn chương, NXB Khoa học xã hội, 1983. 26. Nguyễn Đăng Mạnh. Nhà văn hiện đại Việt Nam chân dung và phong cách, NXB trẻ TP. Hồ Chí Minh, 2001. 27. Nguyễn Đăng Mạnh. Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXB Giáo dục, 2000. 28. Nguyễn Xuân Nam. Mặt đường khát vọng, tiếng hát xuống đường của thanh niên, sinh viên đô thị miền Nam, Báo Văn nghệ, số 568 ra ngày 20/09/1974. 29. Nguyễn Xuân Nam. Thơ tìm hiểu và thưởng thức, NXB Tác phẩm mới, 1985. 30. Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức. Thơ Việt Nam hình thức và thể loại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003. 31. Nguyễn Thi, Chính Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, NXB Tổng hợp Khánh Hoà, 1992. 32. Vũ Quần Phƣơng. Đọc lại thơ chống Mỹ của Nguyễn Khoa Điềm, Báo Văn nghệ, số 17 ra ngày 25/04/1983. 33. Nhà thơ Việt Nam hiện đại. NXB Khoa học xã hội, 1984. 34. Năm tháng cuộc đời trang viết. NXB Thuận Hoá, 2002. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 108 35. Lê Lƣu Oanh. Thơ trữ tình Việt Nam 1975- 1990, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998. 36. Pôspelôp Dẫn luận nghiên cứu văn học, NXB Giáo dục,1998. 37. Chu Văn Sơn. Trữ tình triết luận một vẻ đẹp trong “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí văn học và tuổi trẻ /2002. 38. Trần Đình Sử. Dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục, 1998. 39. Trần Đình Sử. Thi pháp thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 1995. 40. Trần Đình Sử. Mấy vấn đề trong quan niệm con người của Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Tạp chí văn học tháng 8/ 2000. 41. Vũ Duy Thông. Cái đẹp trong thơ kháng chiến, NXB Khoa học xã hội, 1998 42. Thơ tình xứ Huế. NXB Đà Nẵng, 2002 43. Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước. NXB Khoa học xã hội, 1979. 44. Bằng Việt- Phạm Tiến Duật- Vũ Cao- Nguyễn Duy. NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1998. 45. Viễn Phương – Thanh Hải - Nguyễn Khoa Điềm. NXB Giáo dục, 1999. 46. Trần Đăng Suyền. Phong cách Thơ Phạm Tiến Duật, Tạp chí văn học, 3/2002. 47. Trần Đăng Suyền. Mấy ghi nhận về thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mỹ. Nhà văn hiện thực và cá tính sáng tạo. NXB Giáo dục, 2002. ._. Các file đính kèm theo tài liệu này
Thơ Nguyễn Khoa Điềm ❤️️ Tác Giả, Tác Phẩm + Tuyển Tập Thơ ✅ Khám Phá Những Thông Tin Thú Vị Về Cuộc Đời, Sự Nghiệp, Phong Cách Sáng Tác. Tiểu Sử Cuộc Đời Tác Giả Nguyễn Khoa Điềm Sự Nghiệp Sáng Tác Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm Đặc Điểm, Phong Cách Sáng Tác Của Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Điềm Được Mệnh Danh Là Gì Tuyển Tập Các Tác Phẩm Của Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm 15 Bài Thơ Hay Nhất Của Nguyễn Khoa ĐiềmĐất NướcKhúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng MẹLời ChàoMẹ Và QuảSốngViết Cho Lần CuốiNgày VuiNơi Bác Từng QuaThời Đại Hồ Chí MinhMai Vườn Nở SớmLauChiều Hương GiangTắm Bến Hà KhêMiền QuêBuổi Đầu Tiểu Sử Cuộc Đời Tác Giả Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất trong giai đoạn chống Mỹ. Ông được mọi người biết đến với tư cách là một nhà thơ lớn, một nhà chính trị của Việt Nam. Hãy cùng tìm hiểu thêm về tiểu sử cuộc đời tác giả Nguyễn Khoa Điểm ngay sau đây nhé! Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15-3-1943 tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Năm 1955 Nguyễn Khoa Điềm ra Bắc học tại trường học sinh miền Nam. Năm 1964 ông tốt nghiệp khoa Văn của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Sau đó, ông về Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế; xây dựng cơ sở cách mạng, viết báo, làm thơ… cho đến năm 1975. Năm 1975 ông trở thành hội viên hội nhà văn 1975. Năm 1994 Nguyễn Khoa Điềm ra Hà Nội, làm Thứ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin. Năm 1995 Ông được bầu làm Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa V. Năm 1996 Ông là Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá X và là Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin. Năm 2001 tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX, ông trở thành Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương 2001 – 2006 Hiện nay, ông đã nghỉ hưu và sống tại Thành phố Huế. Tìm hiểu thêm về 🌿Thơ Đỗ Phủ 🌿 Bên Cạnh Những Bài Thơ Nguyễn Khoa Điềm Sự Nghiệp Sáng Tác Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm Tìm hiểu chi tiết về sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Nguyễn Khoa Điềm được sinh ra trong gia đình có truyền thống yêu nước và hiếu học, do đó những áng thơ của ông đều hướng về tình yêu quê hương, đất nước. Có thể nó ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, thơ của Nguyễn Khoa Điềm thể hiện rõ được con người Việt Nam và bản chất anh hùng bất khuất của chiến sĩ Việt Nam. Một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Khoa Điềm Đất ngoại ô, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, trường ca Mặt đường khát vọng,… Tác phẩm được xem là thành công nhất của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đó chính là bài thơ “Đất nước”. Bài thơ ra đời trên chiến trường Bình Trị Thiên vào mùa đông năm 1971. Với việc kết hợp tinh tế giữa ca dao và dân ca vào trong thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện được cảm nhận mới lại của tác giả đối với đất nước. Có thể nhận định bài thơ Đất nước là một tác phẩm thành công vang dội, mang đến cho người đọc một cái nhìn toàn vẹn về tinh thần dân tộc và tinh thần yêu nước. Bài thơ đã đi vào lòng nhiều thế hệ người Việt Nam và được đưa vào sách giáo khoa để giảng dạy cho học sinh trong chương trình Chương trình Ngữ văn THPT. Giải thưởng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”. Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô giải B với tập thơ “Cõi lặng” – năm 2010. Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Đặc Điểm, Phong Cách Sáng Tác Của Nguyễn Khoa Điềm Chia sẻ cho bạn đọc các đặc điểm, phong cách sáng tác của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Các bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm thường lấy chất liệu từ văn học Việt Nam và cảm hứng từ quê hương, con người cũng như tinh thần chiến đấu của những người chiến sĩ yêu nước. Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước và con người Việt Nam. Là người trực tiếp tham gia chiến đâu nên thơ của ông rất chân thật và giàu tính chiêm nghiệm, đặc biệt là cảm xúc vô cùng sâu lắng mang đậm màu sắc trữ tình. Là một người có ý thức và trách nhiệm với đất nước, thế nên những câu thơ ông sáng tác thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của người công dân, người lính với đất nước. => Thơ ông giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, mang màu sắc chính luận. Giới thiệu chi tiết về 🔰 Thơ Bạch Cư Dị 🔰Ngoài Chùm Thơ Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Điềm Được Mệnh Danh Là Gì Nguyễn Khoa Điềm được mệnh danh là gì? Thực tế ông không có một biệt danh đặc biệt nào khác, tuy nhiên ông có một tên gọi khác là Nguyễn Hải Dương. Ngoài ra mọi người còn biết đến ông với tư cách là một nhà thơ lớn và một nhà chính trị Việt Nam. Ông nguyên là Ủy viên Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Là bí thư Trung ương Đảng Cộng Sản khóa IX. Là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X và nguyên là bộ trưởng bộ Văn hóa và Thông tin. Tuyển tập các tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mà bạn nên biết. *Đất và khát vọng +Đất ngoại ô 1972 Đất ngoại ô Nơi Bác từng qua Cái nền căm hờn Tiễn bạn cuối mùa đông Người con gái chằm nón bài thơ Mùa xuân ở A Đời Con chim thời gian Nỗi nhớ Con gà đất, cây kèn và khẩu súng Bếp lửa rừng Cát trắng Phú Vang Khoảng trời yêu dấu Từ những gì các anh trao? Thưa mẹ con đi Tôi lại đi đường này Nghĩ về một nhãn hiệu Gửi anh Tường Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ Lau Hình dung về Chê Ghêvara Tình ca Vỗ hờn Trên núi sông Màu xanh lên đường Bước chân – ngọn đèn Hồi kết cuộc Xanh xanh bóng núi Ngày vui Tháng chạp ở Hồng Trường Chiều Hương Giang +Mặt đường khát vọng 1974 Lời chào Báo động Giặc Mỹ Tuổi trẻ không yên Đất nước Áo trắng và mặt đường Xuống đường Khoảng lớn âm vang Báo bão *Các tác phẩm khác Anh đợi Ánh sáng Bạn ơi, bạn có nhớ? Bạn thơ Bây giờ là lúc… Biển trước mặt – Biển Biển trước mặt – Lời ru Biển trước mặt – Nắng cửa Tùng Bốn câu để lại Bốn mươi năm gặp lại… Buổi đầu Các nhà thơ trên đường Cánh đồng buổi chiều Cáp quang Cầu Long Biên Cây vú sữa trước sân nhà Có một ngày Cỏ ngọt Cỏ trước Ba Đình Cõi lặng Đất nước những tháng năm thật buồn Đêm thu ở Hội An Đi bên mùa thu Đi mãi vào rặng núi xa mờ Đọc thơ tứ tuyệt của Đỗ Mục Đồng dao mùa xuân Em, cây chò của anh Giữa ngày xa cách Hoa quỳ vàng Hồ Tây, 2011 Hy vọng Không có quyền mệt mỏi Kính tặng Nguyên Hồng Làng Phao Võng Lặng lẽ Lên núi thăm chùa Mai vườn nở sớm Mẹ và quả Miền quê Một con người Một người Mưa có nói gì không nhỉ? Mưa thu Ngàn năm Thăng Long Ngày đầu năm thăm lão danh tăng Ngày về Ngôi nhà có ngọn lửa ấm Ngũ ngôn ở An Hiên Người nằm bên Hồ Tây Người ở Yên Tử Nhân dân Nhớ Lưu Quang Vũ Nhớ một nhà thơ đã mất Nhớ Nguyễn Đ. Những bài hát, con đường và con người Những bài thơ tình viết trong chiến tranh – Bài 1 Những bài thơ tình viết trong chiến tranh – Bài 2 Những bài thơ tình viết trong chiến tranh – Bài 3 Những bài thơ tình viết trong chiến tranh – Bài 4 Những câu hỏi đầu năm Những quyển sách Nói với bạn bè trong cuộc họp Nói với nhà văn quá cố Ở tuổi sáu ba Sau ngày hội Sống Sông Hương Sự thật của cuộc ra đi Tắm bến Hà Khê Tặng một người sáng tạo Tập thiền Tháng giêng về Văn Giang Tháng tư Tháng tư, Trường Sa Thăm mộ ông bà Thấy người trở lại Trường ca Thơ tặng cháu ngoại Thời đại Hồ Chí Minh Tiễn biệt nhà thơ Tố Hữu Trên đường Trong cánh rừng hiện đại Trong những buổi chiều Trở lại A Lưới Tự do Thơ Nguyễn Khoa Điềm 1990 Uống rượu với bác Dương Văn Vượng Vào hạ Cửa thép Về quê đón Tết Viết cho lần cuối Viết cuối năm Viết ở Hàn Quốc Viết trong ngày Valentine Viết từ Đà Nẵng Có thể bạn quan tâm 👉Thơ Bà Huyện Thanh Quan 👈 Bên Cạnh Tuyển Tập Thơ Nguyễn Khoa Điềm 15 Bài Thơ Hay Nhất Của Nguyễn Khoa Điềm Mời bạn đọc thưởng thức 15 bài thơ hay nhất của Nguyễn Khoa Điềm ngay sau đây. Đất Nước Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồiĐất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kểĐất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ănĐất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặcTóc mẹ thì bới sau đầuCha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặnCái kèo, cái cột thành tênHạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàngĐất Nước có từ ngày đó… Đất là nơi anh đến trườngNước là nơi em tắmĐất Nước là nơi ta hò hẹnĐất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầmĐất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”Thời gian đằng đẵngKhông gian mênh môngĐất Nước là nơi dân mình đoàn tụĐất là nơi Chim vềNước là nơi Rồng ởLạc Long Quân và Âu CơĐẻ ra đồng bào ta trong bọc trứngNhững ai đã khuấtNhững ai bây giờYêu nhau và sinh con đẻ cáiGánh vác phần người đi trước để lạiDặn dò con cháu chuyện mai sauHằng năm ăn đâu làm đâuCũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ TổTrong anh và em hôm nayĐều có một phần Đất NướcKhi hai đứa cầm tayĐất Nước trong chúng mình hài hoà nồng thắmKhi chúng ta cầm tay mọi ngườiĐất nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lênCon sẽ mang đất nước đi xaĐến những tháng ngày mơ mộngEm ơi em Đất Nước là máu xương của mìnhPhải biết gắn bó san sẻPhải biết hoá thân cho dáng hình xứ sởLàm nên Đất Nước muôn đời… Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng PhuCặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống MáiGót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lạiChín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng VươngNhững con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳmNgười học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút, non cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnhNhững người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà ĐiểmVà ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãiChẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông chaÔi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc đời đã hoá núi sông ta… Em ơi emHãy nhìn rất xaVào bốn ngàn năm Đất NướcNăm tháng nào cũng người người lớp lớpCon gái, con trai bằng tuổi chúng taCần cù làm lụngKhi có giặc người con trai ra trậnNgười con gái trở về nuôi cái cùng conNgày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánhNhiều người đã trở thành anh hùngNhiều anh hùng cả anh và em đều nhớNhững em biết khôngCó biết bao người con gái, con traiTrong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổiHọ đã sống và chếtGiản dị và bình tâmKhông ai nhớ mặt đặt tênNhưng họ đã làm ra Đất NướcHọ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồngHọ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúiHọ truyền giọng điệu mình cho con tập nóiHọ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dânHọ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái tráiCó ngoại xâm thì chống ngoại xâmCó nội thù thì vùng lên đánh bạiĐể Đất Nước này là Đất Nước Nhân dânĐất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoạiDạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lộiBiết trồng tre đợi ngày thành gậyĐi trả thù mà không sợ dài lâuÔi những dòng sông bắt nước từ lâuMà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hátNgười đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thácGợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôiNgười dạy ta nghèo ăn cháo ăn rauBiết ăn ớt để đánh lừa cái lưỡiCái cuốc, con dao, đánh lừa cái tuổiChén rượu đánh lừa cơn mỏi, cơn đauCon nộm nang tre đánh lừa cái chếtĐánh lừa cái rét là ăn miếng trầuĐánh lừa thuồng luồng xăm mình xăm mặtĐánh lừa thằng giặc là chuyện Trạng QuỳnhNhưng lạ lùng thay, nhân dân thông minhKhông hề lừa ta dù ca dao, cổ tíchTa lớn lên bằng niềm tin rất thậtBiết bao nhiêu hành phúc có trên đờiDẫu phải khi cay đắng dập vùiRằng co Tấm cũng làm về hoàng hậuCây khế chua có đại bàng đến đậuChim ăn rồi trả ngon ngọt cho taĐất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoaHoa của đất, người trồng cây dựng cửaKhi ta đến gõ lên từng cánh cửaThì tin yêu ngay thẳng đón ta vàoTa nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!… Ta lớn lên khao khát những chân trờiNhững mảnh đất chân mình chưa bén đượcNhững biển khới chứa mặt trời đỏ rựcNhững ngàn sao trôi miết giữa màu xanhÔi có cách gì ta được ngắm những bình minhBuổi vũ trụ chớp bùng nên sự sốngVà ánh sáng trên chiếc xe vàng chuyển độngBỗng một ngày ấm áp kể ta ngheVề những con ngươi của thiên thể xa xôiMuốn bầu bạn với con người Trái đấtÔi phút đó ta vùng lên ngây ngấtMuốn ôm choàng hết tất cả trời mâyTrái tim tay nặng trĩu những mê saySẽ gieo xuống làm âm vang mặt đất… Nhưng em ơi, cái điều trông đợi nhấtVẫn những gì có thể có hôm nayTừ hôm nay, trên mảnh đất ta đâyTa nắm nó như sợi mây vững chãiRồi rút dần từ cánh rừng vĩ đạiCủa cuộc đời hằng nuôi dưỡng chúng taVà diệu kỳ thay! Ta bỗng loá bất ngờTa đã thấy cuộc đời vô hạnGiữa đất đai, nhân dân, bè bạnTa tìm ra ánh sáng của Con NgườiNhững Con Người làm sông núi sáng tươi… Những địa danh trôi từ thuở xa xôiTrôi bằng máu và trôi bằng nước mắtĐã đọng lại thành tên ngươi, tên đấtBao năm rồi suốt mặt pha, triền sôngNhưng không có con người nào đã trôi hết sâu nông Bằng những người dân miền Tây nghèo khổĐây không biển thì rừng làm biển cảMột biển xanh với cồn sóng ngút trờiHọ bám mình vào tấm rẫy nổi trôiRồi gục chết dưới màu xanh vĩnh viễnCuộc đời họ mênh mang bất địnhChỉ đó nghèo bám riết lấy màu daÔi mây trắng ngang đầu, gió dưới rừng xaĐất Nước ở đâu? Đâu là Đất Nước?Kờ-ruồng Kù tiệt!Tiếng suối hay tiếng chim?Tiếng người hay tiếng chiêng?Tiếng đá lăn, cây đổ?Thác gào hay đá nổ?Kờ-ruồng Kù tiệt!Kờ-ruồng Kù tiệt!Đất Nước! Đất Nước!Đất Nước trên miệng ta rồiTrong tim ta mangTrên chân ta bướcĐất Nước! Đất Nước!Cả núi rừng thét lên đồng loạt!Đó là năm dưới thời giặc PhápChúng hất hàng chục chòi Ta-ôi ra khỏi bản đồĐẩy họ vào những cánh rừng xanh không Tổ quốcChính lúc đóLửa đã cháy lên!Lửa ngàn đời từ mỗi bếp cháy lên!Đốt nhà! Ta đốt hết nhà!Địu con lên lưng vác giáo lên vaiĐánh trăm chiếc cồng xuyên thủng núiMắt người già quắc lên cho đàn trẻ theoTa đạp rừng nhằm phía Đông bươn tới!Ôi ta về nguồn! Về nguồn!Kờ-ruồng Kù tiệt!Kờ-ruồng Kù tiệt!Đất Nước! Đất Nước!Ôi ta về theo Đất NướcTa không chịu làm người dân không Đất NướcKhông Việt NamBiển rừng gào lên như muốn níu chân taBiển rừng không cuốn ta vào vô định nữaTa làm con suối rừng biết tìm sông mà tớiTa làm con nai biết tìm lối mà vềMặt trời mọc, mặt trời chỉ hướngÔi lòng ta có mặt trời soi sángTa trở về Đất Nước Tổ tiên ơi!…Và hôm nayKhi bom thằng Mỹ tớiCắt ngang những nói nhọn nhà làngChôn những nhà mồ vào đất bụiTa đánh lên tiếng cồngTa gọi vang rừng vang úiĐất Nước!Ta đánh lên tiếng chiêng cho cả Bắc Nam cùng nghe được!Nghe tấm lòng người Tà-ôi, Pa-kô, Cà-tuThuỷ chung Đất NướcRồi ta quăng cồng dưới suốiRồi ta chủ chiêng dưới câyTa điTrong âm vang yêu nướcTa đi với rựa và tênRựa ta mài vào gỗ thành nươngTên ta gài xuống đất thành bẫyThằng Mỹ vào thì xác mà để đấy!Thằng nguỵ vào thì xác nó đừng chôn!Cho cháu con ta, ai sau nữa, được nhìn!Ôi Đất Nước đầu mũi daoĐất Nước đầu mũi tênĐất Nước đầu tiếng chiêngĐất Nước là ngọn lửaĐất Nước tràn lên từng đỉnh núiĐất Nước thiêng liêng… Đêm nay ta lên hết mặt sông Hồng!Nước đánh động dưới chân ta rồiĐất NướcĐang gọi ta từng hồi trống thúcĐất Nước xoáy nhào tim taKý ứcĐất Nước muôn đời đang vặn mình, đang sôi… Chúng ta là người dân miền NamNhung tôi biết anh gốc gác họ Hoàng Kinh BắcCòn tôi họ Nguyễn tỉnh ĐôngHuyết thống ta trôi trên bán đảo âm thầmHôm nay bỗng réo sôi từng hồi từng trậnKhi cơn lũ đang lao qua châu thổ sông Hồng! Ta lên hết mặt đê sông Hồng!Dẫu chỉ bằng tâm tưởngỞ đâu đó ta không còn nhớ nữaSao tổ tiên ta cầm cuốc, cầm càyCầm giáo, cầm khiên và cất tiếng hát lưu đàyĐể xa châu thổ từ độ ấy… Ôi những gốc tre tổ tiên ta từng thấyVẫn còn nguyên trên bờ bãi sông HồngLúa lên xanh trên những cánh đồngCũng có tay cha ông in vào trong lúaSâu thẳm quá cho đến từng mái rạCũng có dáng một ngày cha ông khăn gói bước ra Ôi những gì Người đã ước mơThì bây giờ cũng thơm lá thơm hoaNên hôm nay chúng taPhải lên hết đê sông Hồng mà giữ lấy! Đất NướcPhải chặt tre, đóng cọc mà giữ lấy!Đất NướcPhải đan phên, đổ đất mà giữ lấy!Đất NướcPhải phá nhà, chặt cây vườn vác ra mà giữ lấy!Đất NướcPhải neo người xuống sông, chặn nước mà giữ lấy!Đất NướcĐất Nước không thể trôi được!Máu xương, mồ mả tổ tiên đã trôi điNhững dòng họ đã trôi điNhưng hôm nay không thể nào trôi được!Đất NướcĐang gầm lên trong sóng gió ngất trờiHàng chục triệu thước khối nước đang lao vào mặt đấtCuộc xáp trận của vật chất muốn đè vật chấtCủa thiên nhiên đè xuống con ngườiTa vươn mình gánh lấy đất đaiTa ném máu xương ta vào làm vật cảnTất cả ý chí và sinh mạngPhải được vai dựa vào vai, đùi gối lên đùiĐẩy con đê sông Hồng tiến lên phía trướcThắng giặc Mỹ hay thắng giặc nướcĐều nhất tề xung phong! Sơn Tinh đang nhìn ta lo lắng đăm đămCả nhân loại đang nhìn ta cổ vũCon cháu ta mai sau hối hả lật từng trang lịch sửNgợp trước con đê sông Hồng lên cao, lên cao…Chào 4000 năm! Con đê như một cánh tay caoCủa thế trận những người làm chủLàm chủ cuộc đời và lướt từng đỉnh lũBảo vệ miến Bắc, chi viện miền Nam! Mẹ Việt Nam ơi!Đêm nay con về gối đầu trên cánh tay của MẹÔi cánh tay rắn rỏi, dịu hiềnLấm láp bùn lầy nhưng ấm áp niềm tinĐó là hai cánh đê sông Hồng của MẹMẹ phả vào mặt con nồng nàn mùi sữaCủa những đồng xa nguyên vẹn như mùaCon đã đi xa từ thuở ấy đến giờNay bọn Mỹ còn cắt chia Đất NướcNhưng đêm đêm con trở về thân thuộcNgủ trên cánh tay Mẹ hiền từ cay đắng nuôi conTrong tháng năm chớp bể mưa nguồnRu con lớn và làm người thương Mẹ… Đã có một thờiAi muốn vào châu Mỹ La-tinhĐến trước vịnh Ca-ra-ipSẽ không cần dùng địa bànCứ nhìn những xác da đenTrôi bập bềnh trên biểnNhững xác da đen chỉ hướngĐưa anh vào “mảnh vườn sau” của chủ nghĩa thực dânĐã có một thờiAi muốn đến Việt NamCứ theo gót những đàn ngựa phương BắcHay chữ thập trên tàu buôn nước PhápCác bạn sẽ tìm ra Việt NamBởi vì ngày ấyNước chúng tôi chưa có trên bản đồ thế giớiNgôn ngữ loài người chưa biết hai chữ “Việt Nam”Và dẫu bạn đến đâyChỉ có những tên đô hộ phủ toàn quyềnĐứng ra tiếp bạnNhưng hôm nayBạn hãy đi theo những đoàn đi bộ tuần hànhMang những lá cờ sao vàngỞ Pa-ri, ở Mát-xcơ-va hay Xtốc-khômBạn sẽ đến được Việt Nam tôi đó Bởi vì Việt Nam hôm nayNằm giữa lòng thế giớiNằm trong tim nhân loạiNằm trên con đường dẫn ta tới giá trị Con Người…Bởi vì Việt Nam hôm nayLà Việt Nam chống MỹChúng tôi gánh trên vai hành trang nặng nề của thế kỷĐể bạn bình tâm bước vào ngưỡng cửa Tự do… Bạn đến đâyĐã có Bác HồVà Nhân dân tôi sẵn sàng đón bạnDẫu Người đi vắngBạn có thể đến nhà Người thăm một khóm hoaRồi cùng nhân dân tôi trò chuyệnNhân dân tôi đẩy tình yêu mếnĐã được Người dặn dò trước phút đi xa… Bạn hỏi vì sao cúng tôi yêu quý Bác HồBởi vì Người là Người đầu tiênVề với Đất Nước chúng tôiMang chủ nghĩa Mác-Lê ninChứa trong trái tim yêu nước nhấtKhi Người đặt tay lênHòn đất Việt Nam đầu biên giớiThì từ đóĐất không phải là đất nữaĐất là chiến hàoĐất là cạm bẫyĐất là hoa tráiNuôi chúng tôi, che chúng tôi cầm súng lên đường! Có Người, chúng tôi có lại Hùng VươngCó lại dáng búp sen nghìn năm của chùa Một CộtVà những búp sen miền Nam tận bùn lầy Đồng ThápCó Người, cũng đã thành thơCó Người, mỗi mũi tên đồng Cổ LoaKhông chịu vùi dưới đấtKhông nằm yên trong viện bảo tàngChúng bay lên xé gió thời gianMở hết đường bay qua thăng trầm lịch sửĐể cắm vào đầu giặc Mỹ!Có Người, pho Bồ Tát nghìn tay nghìn mắtBiết toả hào quang từ hàng chục cánh tayCó Người, pho Bồ Tát triều Lý chỉ còn đầuVẫn nguyên vẹn trong lòng chúng tôi nhờ búi tóc thời vua Hùng để lạiVà pho Kim Cương trên đôi chân vững chãiDẫu mất đầu vẫn giữ một dáng đứng Việt NamĐấy, Đất Nước chúng tôi đổ vỡ biết bao lầnCả những pho từ bi cũng không ngoài hoạn nạnNhưng có Người, những cái mất đi phải trả về hình dángQuá khứ được nhìn từ đôi mắt Hôm NayVà Hôm Nay từ đôi mắt Ngày MaiChúng tôi sống bằng Tương lai một nửaBằng tình yêu vô hạn những con ngườiNhư Hôm Nay nhìn Đất Nước cắt đôiChúng tôi đã thấy ngày hàn gắn… Bởi vì Người là người đầu tiênYêu miền Nam trong trái tim mìnhYêu tuổi trẻ miền Nam 25 nămChưa có được ngày hạnh phúc Mà Người dạy chúng tôiHãy bền gan đánh giặcDẫu phải chết cũng không khuất phục“Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do!” Chúng tôi là con cháu Bác HồCó nghĩa là chúng tôi giống BácNhững gì còn non nớtChúng tôi học tập để sống, chiến đấu như Người Bởi vì Người là đất nước của chúng tôiMỗi sợi tóc trắng của Người đều ghi ngày gian khổ nhấtCủa Đất Nước, những năm dài đánh giặcĐôi dép của Người mòn vẹt gótNgười đã đi những ngả đường Đất Nước hành quân Trái cà Người ănCũng là trái cà nuôi người anh hùng đầu tiên – Thánh GióngCây gậy Người cầmCũng có thể tìm trong trăm ngàn gậy vượt Trường SơnÝ chí của NgườiÝ chí toàn dân tộcLý tưởng của NgườiSự sống chúng tôi mang…Hồ Chí Minh – Việt NamBạn và tôi cùng gọiHồ Chí Minh – Việt Nam Em nghe không trái thị đã rơi xuống tay NgườiTrái không chỉ rơi vì sức hút đất đaiTrái rơi vì tay Người ao ướcKhi trái chạm vào tay Người và Người ấp ủThì lừng hương tay Người và Người ấp ủThì Lừng hương và cô Tấm bước raĐi trả thù và sống Tự do…Không rơi xuống bùn, ôi trái thị quê taĐể bùn lấm và thành bùn vạn kiếpRơi vào tay Người, đó là định luậtCủa đấu tranh và nhân nghĩa Việt Nam Tuổi trẻ ơi trong sương gió tháng nămTa đã lớn rồi, chín đầy hy vọngHãy ngã xuống tay Nhân dân, hỡi sắc vàng cảu nắngHỡi hương thơm của nồng mặn mồ hôi.. Hãy ngã vào tay Nhân dân, đừng vãi đừng rơiĐừng tự do, đừng hoài nghi nữaHãy yêu Nhân dân và nghe Người nhắn nhủHãy tìm sức mạnh mình trên cơ thể Nhân dânNhân dân đang đi lên đội ngũ trùng trùngThế vô tận của nghìn năm giết giặcLửa đã cháy hồng hào mặt đấtMùa chín tình yêu, mùa chín hận thù! Không bao giờ xương máu phải bơ vơÔi sông núi nghi ngàn dặm đấtCó nghe tiếng chúng con Xin có mặtNguyện làm người xung kích của quê hươngĐây tiếng hát chúng conTiếng hát xuống đường! Khúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng Mẹ Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng giã gạo mẹ nuôi bộ đội,Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em hôi mẹ rơi má em nóng hổi,Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối,Lưng đưa nôi và tim hát thành lời Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi,Mẹ thương a kay, mẹ thương bộ độiCon mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần,Mai sau con lớn vung chày lún sân… Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng đang trỉa bắp trên núi Ka–lưiLưng núi thì to, mà lưng mẹ nhỏ,Em ngủ ngoan em, đừng làm mẹ trời của bắp thì nằm trên đồi,Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng. Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi,Mẹ thương a kay, mẹ thương làng mơ cho mẹ hạt bắp lên đềuMai sau con lớn phát mười Ka–lưi… Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi,Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng đang chuyển lán, mẹ đi đạp Mỹ đuổi ta phải rời con suốiAnh trai cầm súng, chị gái cầm chông,Mẹ địu em đi để dành trận trên lưng mẹ em đến chiến trường,Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn. Ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi,Mẹ thương a kay, mẹ thương đất mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ,Mai sau con lớn làm người Tự Do… Lời Chào Ta đã đi qua những năm tháng không ngờVô tư quá để bây giờ xao xuyếnBèo lục bình mênh mang màu mực tímNét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông… Ta lớn lên bối rối một sắc hồngPhương cứ nở hoài hoà như đếm tuổiNhư chiều nay, một buổi chiều dữ dộiTa nhận ra mình đang lớn khôn… Biết ơn những cánh sẻ nâu đã bay đến cánh đồngRút những cọng rơm vàng về kết tổĐá dạy ta với cánh diều thơ nhỏBiết kéo về cả một sắc trời xanhBiết ơn mẹ vẫn tính cho con thêm một tuổi sinh thành “Tuổi của mụ” con nằm tròn bụng mẹĐể con quý yêu tháng ngày tuổi trẻBuổi mở mắt chào đời, phút nhắm mắt ra đi… Biết ơn trò chơi tuổi nhỏ mê ly“Chuyền chuyền một…” miệng, tay buông bắtNgôn ngữ lung linh, quả chuyền thoăn thoắtNên một đời tiếng Việt mãi ngân nga… Biết ơn dấu chân bấm mặt đường xaNhững dấu chân trần, bùn nặng vếtTa đi học quen dẫm vào không biếtDáng cuộc đời in mãi dáng ta đi… Biết ơn dòng sông dựng dáng kiếm uy nghiTrong tâm trí một nhà thơ khởi nghĩaCao Bá Quát ngã mình trên chiến địaTrăm năm rồi sông vẫn sáng màu gươm… Trăm năm rồi ta đếm bước sông HươngVẫn soi thấy niềm đau và nổi giậnKhuôn mặt trẻ bỗng già trên lớp sóngNgẩng đầu lên, ta thấy mặt quân thù! Mẹ Và Quả Những mùa quả mẹ tôi hái đượcMẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồngNhững mùa quả lặn rồi lại mọcNhư mặt trời, khi như mặt trăng. Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lênCòn những bí và bầu thì lớn xuốngChúng mang dáng giọt mồ hôi mặnRỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi. Và chúng tôi, một thứ quả trên đờiBảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được háiTôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏiMình vẫn còn một thứ quả non xanh? Sống Không thể nào chấp nhận sốngCho dù được đặt hoa trước cửaHát véo von trên cánh đồngThắp hương người dưới mộThiệp hồng như chim bayĐồng tiền chuồi qua khung thể nào chấp nhận sốngVới lời cầu xin, lời doạ nạtCon người luôn đi sau thời gianĐể thời gian chỉ còn báo mộngKhông thể nào bưng hai tayMột bình an đặng sốngKhông thể nào cúi đầuNhìn ngón chân bất thể nào chấp nhận sốngMà không biết mình về đâuKhông biết mình có thể làm gìBuồn vui theo kẻ thể nào chấp nhận sốngTrong sợ hãi, trong lọc lừaChẳng nhớ tim mình còn thể nào chấp nhận sốngKhi mình chưa là mìnhTrống trơ như vực thẳm…Ngày ta sốngKhi mình là sự sốngTừ ra đi đến trở vềTừ hư vô đến bụi đờiKim cương bất hoại. Viết Cho Lần Cuối Anh chẳng mong chôn vào đá, vào đồngChỉ có thể là đất đai thân thuộcSâu một thước với tứ chi còi cọcCũng đủ mời giun dế đến lai raiAnh chẳng thiêng, cũng chẳng doạ dẫm aiXin đừng ngại, ngọn cỏ hiền sẽ mọcTrên mặt đất, một dáng hình đã khuấtTrong mây chiều hay sương sớm mai Phải không em, chỉ nỗi khát làm ngườiAnh đã chọn với hai hàng nước mắtKhi cái chết làm phép trừ vô cựcAnh là anh, mãi mãi vẫn là anh… Ngày Vui Tôi qua dòng sông yên tĩnhCon cầu như tiếng ngân vuiTiếng ve ấm bừng trí nhớSen lên thơm bốn mặt thànhNgày vui của đời ta đóGió thổi đường dài bâng khuâng… Đất nước ba mươi nămTrên vai sắt thépĐi suốt cuộc trường chinhĐi qua tuổi trẻĐi qua những cuộc tiễn đưa lặng lẽ, không hoaVà bây giờ đất nước nở hoaGầm trong hai mươi mốt phát đại bác rung trờiChào Chiến Thắng! Đất nước của tôiTôi muốn quì trước chân NgườiĐặt môi mình trên nguồn thẳmIn trán mình vào cát mặnTung tăng hoài mỗi gốc lúa làng quêHát khúc đồng dao về Độc Lập, Tự Do… Mẹ ơi, con trở lại nhàSau lưng con cánh cửa chiều khép nhẹMẹ lại ngồi trước bếp chiều lặng lẽNấu cơm cho chúng con ănÔi những hạt gạo nổi chìm ba mươi nămĐời mẹ tảo tần cay đắngTừng nuôi chúng con làm nên chiến thắngBây giờ chưa đủ chúng con noNhưng căn nhà mình lộng gió tự doReo tiếng trẻ những mùa làm lụng mới… Mẹ thân yêu, với tấm lòng trọn vẹnMẹ vẫn khơi bếp lửa hồng như cổ tích, ca daoVề những gì mong đợi ở mai sau… Nơi Bác Từng Qua Nơi mẹ sinh con ra nơi Bác từng quaNăm tháng ấy bây giờ con mới rõTóc mẹ bạc rồi, những năm đói khổKinh đô đau buồn – nơi Bác từng học nào Người đã đến ngồi đâyNhững mùa thu im lìm lá đổNhư vùi sâu cả bầu trời xứ sởXuống dòng sông nức nở khúc Nam ai?Góc chợ Xép, nơi nào Người đến ởHàng phượng nào từng nở một mùa hoaĐã rải đỏ tâm hồn người thưở đóMột sắc cờ vẫy gọi buổi Người xa?Ôi trái mù u động dưới chân NgườiCòn muốn theo Người ra cản giặcNgười culy nào hai càng xe khoá chặtSẽ cầm cờ đi trong tương lai?Kinh đô mất, nhưng lòng Người không tắtTừ đau thương, chân lý đến nơi nàyTổ quốc lớn lao là Tổ quốc của người chân đấtHát dân ca và cầm búa, cầm buổi ấy… Người đi không trở lại,Nhưng thành phố vẫn đi trên những bước chân NgườiThành phố vẫn khoác hai màu trời thu thương nhớ mãiNăm Bốn mươi lăm và ngày Bác mất, Bác Hồ ơi!Thành phố Bác qua đã thành nơi chiến đấuĐuổi Nhật, Tây và hất đổ ngai vàngGiặc Mỹ kéo vào. Mỗi tiếng Người vang vọng“Vì độc lập, tự do…” – Thành phố lại lên đường…Nơi ấp ủ những dấu chân hy vọngNgười trồng cây đến hái trái cây vềNên hôm nay trước trận cuối cùng đánh thắngBước Người về, cả thành phố lắng nghe… Thời Đại Hồ Chí Minh Khi những anh hùng ngẩng cao đầu ngã xuốngMiệng hô vang Hồ Chí Minh, Hồ Chí MinhLịch sự như một con tài cất tiếng còi cháy bỏngBáo ga này ga Hồ Chí MinhKhi đoán cháu con lại nối tiếp cha anhTiến trên đường Hồ Chí Minh đuổi giặcLịch sử sẽ khởi hành trên con đường ngắn nhấtVào tương lai thơi đại Hồ Chí MinhKhi những em bé đến trường trong tình thương bè bạnNhững dân tộc vùng cao viết chữ cụ Hồ trong núi bắngLịch sử sẽ lật từng trang nhanhTrong ánh sáng thời đại Hồ chí MinhTừ đau thương ta đứng dạy quên mìnhLẽ sống là con đường diệt MỹDáng vóc lớn khi ta cầm vũ khíViệt Nam hùng vĩ nước non nàyTrên đất nước nghìn năm những nông dân lại tập cấy càyNhà bác học phải nghĩ suy từ ba sào chua mặnNăm tấn thóc để làm thép gang mặt trậnCũng là bài ca theo suốt những đoàn quânTa lại có tình yêu sáng ngời hơn trăm nét hoa vănCó nỗi vui một câu ca dao, một trang Kiều mơ ướcCó trời xanh Ba Đình ai cũng nhìn ngắm đượcCó đời ta trọn vẹn giữa đời dânTa thêm yêu tin mỗi thước đất ta nằmĐường ra trận ta thương từng bóng láNgủ hầm sâu ta quý từng lớp gióĐất nước này ta yêu ta thânÔi đất nước Hồ Chí MinhChưa bao giờ nghĩ suy của ta cao rộng thếTừ việc đầu tiên là việc đuổi Mỹ dựng nhàCho đến việc dạy em bé đừng đi chân khôngVà chuyện riêng sinh đẻBa mươi triệu người dân lo toan bằng tấm lòng người cha, người mẹThời đại Hồ Chí Minh chúng taSung sướng thay mỗi người dân đều được thấy Bác HồCàng nhớ dáng những vua Hùng thời lập nướcBốn ngàn năm nghĩa là bốn ngàn năm có đượcMột bây giờ thời đại Hồ Chí MinhÔi ta đã góp những chiếc nôi ngày nhân loại khai sinhNay đã góp máu xương chọ trọn ngày chiến Việt Nam xanh màu trên châu Phi cát trắngNhững Việt Nam khoác súng tường trên châu Mỹ La-tinhNhững Việt Nam chân lý Hồ Chí MinhÔi Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh…Điệp khúc lớn những mùa thu ra trậnChúng con đi bát ngát tự hàoMảnh trời xanh sau rừng biếc bay caoNhư tay bác như tay thời đại vẫyĐường giải phóng dù gian lao máu chảyChúng con đi bền bỉ sức thanh xuânĐang lớn lên như Phù Đổng trăm lầnQuyết đánh thắng bầy hung nô thể kỉQuyết thắp sáng trong tầm cao ý chíChân lý người k có gì không có gì quý hơnĐộc lập tự do, Hồ Chí Minh thời đại sáng tên người Mai Vườn Nở Sớm Năm nhuận, cả vườn mai nở sớmNhững vội vàng tan tác trước Văn LâuThì hãy nhận những cành xanh mới chớmMột mùa xuân bừng biếc sắc ngày sau… Lau Xe đi trong rừng lauLau làm mây, lau làm bàn tayVuốt nhẹ vào buồng láiBuồng lái ta có giàn tre làm máiThêm lau che đường, buồng lái hóa nhà taKỷ niệm tuổi thơ phơ phất bóng lau quaLớp trẻ đi những triền đồi bãi sóngTrên vai bạn cờ lau tập trậnLịch sử ngàn xưa là ước mơ nayXe đi trong rừng lau gió lay..Những hòm đạn ba-mươi-cân nén chặt thùng xeNhững tải gạo năm-mươi-cân căng tròn nóng hựcTruyền thuyết xưa và thần thoại nayLấp lánh khung trời cánh hoa lau bayThung lũng A Xo một bầu cộng hưởngBê-năm-hai và pháo địch rú gàoNhưng năm năm trời xe ta đi là thếDìu dắt cửa ngoàn vẫn tiếng lau xaoYêu những đồi lau ra trận đêm naoLau thắp sáng hai bờ vực thẳmQua trọng điểm gạt mồ hôi thấp nhámNhững bông lau vướng vít tự bao giờMột màu hoa sáng loáng cả mùa khôMàu tốc độ trên tuến đường vận chuyển. Chiều Hương Giang Sau chiều nay, còn buổi chiều khác nữa,Có thể mây cao, có thể nắng vàng,Cơn gió thổi những buổi chiều chưa tớiTóc bao người bay rợi cả không gian… Nhưng chiều nay, con bò gặm cỏ,Bên dòng sông, như chưa biết chiều với nó lặng im, bè bạnMắt nó nhìn dìu dịu nước Hương Giang. Những buổi chiều, những buổi chiều quê hương,Tôi đã sống và tôi chưa được sống,Nhưng chiều nay, vô tình trong nắng muộn,Mắt tôi nhìn trong suốt nước Hương Giang… Tắm Bến Hà Khê Mười năm dầu dãi, đường xa ngái,Bây giờ về tắm bến Hà lên tháp cổ cao trông đợi,Cúi xuống dòng xưa chợt ấu thơ. Miền Quê Lại về mảnh trăng đầu thángMông lung mặt đồng bóng chiều,Tiếng ếch vùi trong cỏ ấmLúa mềm như vai thân yêu Mùa xuân, là mùa xuân đấyThả chim, cỏ nội hương đồngĐàn trâu bụng tròn qua ngõGõ sừng lên mảnh trăng cong Có gì xôn xao đằm thắmBao nhiêu trông đợi chóng chầyĐàn em tóc dài mười támThương người ra lính hôm mai Để rồi bao nhiêu gió thổiBên giếng làng, ngoài bến sôngCó tiếng hát như con gáiCao cao như vầng trăng trong… Buổi Đầu Tặng con gái Kìa cái bông hoa làm con ngãKìa tiếng chim sẻ cười làm con nín khócKìa cái nắng dắt con dạo chơiCha mẹ đi làm, con một mình tha thẩnNgã, đứng dậy, khóc, cười một mình… Bốn mươi tuổi rồi, lắm khiCha cũng ngã, đứng dậy, khóc cười một mìnhCuộc đời cha dễ đâu toàn vẹn Xa conCha đau đáu nhớ thươngCha gọi thầmNỗi chịu đựng của cha ơiNiềm mong đợi xót xa của cha ơiCon hãy nắm chắc thế giới này trong hai tayNgay tự buổi đầuNhững chim,Những hoa,Những nắng… Xem ngay các thông tin thú vị về 🌸Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ 🌸Tìm hiểu chi tiết
Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và hiếu học nên những vần thơ của ông đều hướng về tình yêu quê hương, đất nước. Để hiểu thêm và cuộc đời, sự nghiệp của tác giả Nguyễn Khoa Điềm mời các bạn theo dõi bài viết này! Mục lục bài viết 1 1. Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khoa Điềm 2 2. Tiểu sử tóm tắt của Nguyễn Khoa Điềm 3 3. Phong cách sáng tác 4 4. Tác phẩm tiêu biểu 5 5. Vinh danh 6 6. Nhận xét về Nguyễn Khoa Điềm và tác phẩm 1. Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Điềm sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, hiếu học nên những bài thơ của ông đều hướng về tình yêu quê hương, đất nước. Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Là người trực tiếp tham gia chiến đấu với đế quốc Mỹ nên thơ ông rất chân thực, giàu trải nghiệm, đặc biệt là những cảm xúc sâu lắng, mang màu sắc trữ tình. Là người có ý thức và trách nhiệm với đất nước, những vần thơ do ông sáng tác thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của người công dân, người lính đối với đất nước. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15 tháng 3 năm 1943 tại Tỉnh Thừa Thiên Huế, nước Việt Nam. Ông sinh thuộc cung Song Ngư, cầm tinh con Đê Quý Mùi 1943. Nguyễn Khoa Điềm xếp hạng nổi tiếng thứ 44773 trên thế giới và thứ 192 trong danh sách Nhà thơ nổi tiếng. Tổng dân số Việt Nam năm 1943 là khoảng 22,612 triệu người. Nguyễn Khoa Điềm sinh ra tại làng Kiều Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thân sinh ông là chí sĩ Hải Triều, thuộc dòng dõi quan đại thần Nguyễn Khoa Đăng, quê gốc ở An Dương tỉnh Hải Dương, Hải Phòng trước đây. Quê quán Thôn An Cựu, xã Thủy An, TP Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thuở nhỏ Nguyễn Khoa Điềm học ở quê. Năm 1955, ông ra Bắc học Trường Nam học. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, cùng lứa với Phạm Tiến Duật và Lê Anh Xuân. Sau đó, ông vào Nam hoạt động trong phong trào sinh viên ở Huế; tham gia quân đội, xây dựng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, viết báo, làm thơ,… cho đến năm 1975. Nguyễn Khoa Điềm bị giam ở nhà lao Thừa Phủ. Tết 1968, ông được giải phóng và hoạt động trở lại. Lúc này Nguyễn Khoa Điềm mới bắt đầu làm thơ. Nguyễn Khoa Điềm trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1975. Sau 1975, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cộng sản; Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III. Năm 1994, Nguyễn Khoa Điềm ra Hà Nội, làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin. Năm 1995, ông được bầu làm Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa V. Năm 1996, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Khoa Điềm được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Ông là Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, từ tháng 11 năm 1996 là Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin. Năm 2001, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Khoa Điềm trở thành Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương 2001 – 2006. Hiện ông đã nghỉ hưu và sinh sống tại TP Huế. 3. Phong cách sáng tác Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Là người trực tiếp tham gia chiến đấu với đế quốc Mỹ nên thơ ông rất chân thực, giàu trải nghiệm, đặc biệt là những cảm xúc sâu lắng, mang màu sắc trữ tình. Là người có ý thức và trách nhiệm với đất nước, những vần thơ do ông sáng tác thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của người công dân, người lính đối với đất nước. Tiêu biểu trong các sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm là bài thơ Đất nước, với giọng điệu thơ đậm đà màu sắc dân tộc, lắng đọng sâu sắc kèm theo những lí giải về tư tưởng của tác giả. Anh đã vẽ nên một “Đất Nước” vĩ đại nhưng không kém phần bình dị, thân thương. Đó là Đất Nước của tất cả chúng ta, bài thơ khẳng định vai trò to lớn của Đất Nước đối với mỗi người. Những vần thơ vô cùng rõ nét đó thể hiện tinh thần yêu quê hương của Nguyễn Khoa Điềm. Đây là một trong những tác phẩm thành công nhất của ông, nó mang lại cho người đọc nhiều niềm tự hào dân tộc. Trong quá trình vận động và phát triển của thơ ca chống Mỹ, đã xuất hiện một hệ thống các nhà thơ trẻ, trong đó có Nguyễn Khoa Điềm. Nhà thơ đã có mặt, đi khắp cuộc chiến và ghi dấu những thành tựu của mình qua đam mê sáng tác. Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm trong thời kỳ chống Mĩ cứu nước là nguồn cảm hứng lớn về đất nước và nhân dân anh hùng. Hệ thống đặc sắc nhất của phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm nằm ở cảm hứng hiện thực thời đại, ở những đề tài quen thuộc, ở cách thể hiện cái tôi phong phú, đa dạng được cất giữ, ở những lớp từ, những hình ảnh cảm xúc ẩn sau bề mặt câu chữ, một ý nghĩa lịch sử và văn hóa sâu sắc độc đáo. Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, lòng yêu nước không đơn giản chỉ là lòng hăng hái xông trận và lòng căm thù giặc mãnh liệt. Với Nguyễn Khoa Điềm, tình yêu đất nước sống lại trong trang sử hào hùng ngàn năm của dân tộc với những chiến công dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự đồng tồn của những gì gần gũi, thân thương nhất đối với mỗi con người Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai, trong thời gian và không gian, trong lịch sử và truyền thống. Ở Nguyễn Khoa Điềm, lòng yêu nước là tâm hồn Việt Nam day dứt trong tâm hồn để từ đó rút ra một chân lý vàng ngọc Đất nước của nhân dân. Tư tưởng đất nước nhân dân đã chi phối hầu hết các tác giả của Nguyễn Khoa Điềm. Vì vậy, thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ thể hiện những suy nghĩ, tình cảm của tuổi trẻ trong chiến tranh, về niềm lạc quan hay cái nhìn nghiêm túc, chân thực, trần trụi trước những mất mát… mà còn bộc lộ những suy tư. nghĩ về thực tế sâu sắc hơn nhiều. Thơ Nguyễn Khoa Điềm thể hiện lòng yêu nước qua những tranh luận về tuổi trẻ và nhân sinh quan để xây dựng lại cả quá trình “tìm đường” và “nhận thức đường đi” của thanh niên thành thị Nam Bộ với Internet. của dân tộc và nhân dân. Tài năng và cá tính sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm còn được bộc lộ ở phương diện nghệ thuật đó là thể thơ biểu cảm có phong cách riêng, từ giọng điệu trữ tình đậm chất chính luận đến việc xây dựng chất liệu thơ. chất liệu hiện thực, chất liệu văn hóa và chất liên tưởng…, từ việc sử dụng các tín hiệu thẩm mỹ vừa truyền thống vừa hiện đại đến việc vận dụng linh hoạt thể thơ tự do với các cung bậc thơ khác nhau. những cảm xúc dạt dào với vốn từ phong phú vừa dân gian, vừa đậm chất văn hóa của thời đại. 4. Tác phẩm tiêu biểu Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có các tác phẩm tiêu biểu sau đây Người con gái chằm nón bài thơ, Nơi Bác từng qua, Nỗi nhớ, Tháng chạp ở Hồng Trường, Thưa mẹ con đi, Tiễn bạn cuối mùa đông, Tình Ca, Tôi lại đi đường này, Trên núi sông, Từ những gì các anh trao?, Tuổi trẻ không yên, Vỗ Hờn, Xanh xanh bóng núi, Giặc Mỹ, Gửi anh Tường, Hình dung về Chê Ghêvara, Hồi kết cuộc, Khoảng trời yêu dấu, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Lau, Lời chào, Báo động, Bếp lửa rừng, Bước chân – Ngọn đèn, Cái nền căm hờn, Cát trắng Phú Vang, Chiều Hương Giang, Con chim thời gian, Con gà đất, cây kèn và khẩu súng, Đất ngoại ô 1973, Mặt đường khát vọng 1974, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm 1986, Thơ Nguyễn Khoa Điềm 1990, Cửa thép 1972, Đất và khát vọng, Trường ca, Đất nước, Màu xanh lên đường, Mùa Xuân ở A Đời, Ngày vui, Nghĩ về một nhãn hiệu, Xuống đường 5. Vinh danh Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”. Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô giải B cho tập thơ “Im lặng” – 2010. Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật 6. Nhận xét về Nguyễn Khoa Điềm và tác phẩm May mắn thay, tôi được sống trong những năm tháng hào hùng của dân tộc để hiểu hơn về đất nước, con người và bản thân mình. – Nguyễn Khoa Điềm Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm đã tạo nên hình tượng Đất Nước quen thuộc mà mới lạ trong thơ ca Việt Nam… Nguyễn Khoa Điềm đã khắc họa một Đất Nước nguyên vẹn, là thể thống nhất của lãnh thổ và văn hóa, của lịch sử và đời sống, một Đất Nước trong không gian tâm linh của con người Việt Nam. Một đất nước như thế không thể có được bằng bút pháp miêu tả bên ngoài, nên mọi yếu tố nhà thơ đều phải dùng hình thức phản ánh, liên tưởng, liệt kê, đưa dần người đọc vào trí tưởng tượng của mình. , vào trí tưởng tượng của họ. ký ức của họ, nhìn thấy Đất nước trong chính tâm hồn họ. – Trần Đình Sử Sợi chỉ nên hình ảnh thơ Nguyễn Khoa Điềm óng ánh một màu sắc riêng của chất liệu văn học dân gian – đó là một phần tạo nên sức hấp dẫn của thơ ca xứ người… để người đọc lặng người, xúc động trước một chặng đường. Định nghĩa đáng ngạc nhiên của Nguyễn Khoa Điềm.
phong cách thơ của nguyễn khoa điềm